Chương 1 MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE BẢO VỆ QUYEN CUA PHU NU VÀ VIDEO CLIP TINH DUC BỊ PHAT TAN TREN KHÔNG GIAN MẠNG 1. Khái quát về vấn đề bao vệ quyền của phụ nữ 1. Lịch sử hình thành và quan điểm về vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ 1. Lịch sử hình thành vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ Bảo vệ quyền của phụ nữ là vấn đề được ghi nhận từ rất sớm.
Trải qua nhiều giai đoạn lịch sử với nhiều cách thức thể hiện khác nhau nhưng vấn đề bảo vệ quyền của phụ nữ luôn hướng đến nhằm chống lại sự xâm hại, gây ton thương đến phụ nữ. Quyền phụ nữ là nguồn gốc, là nền tang dé hình thành van dé bảo vệ trong xã hội loài người. Thông qua quá trình hình thành về quyền phụ nữ trong xã hội, có thể chia làm ba giai đoạn về lịch sử hình thành và phát triển đối với vấn đề bảo vệ quyền phụ nữ: a) Thời kỳ cỗ đại Từ thời kỳ c6 đại thuật ngữ quyền phụ nữ đã được “nhen nhóm” ở một số khu vực, tuy nhiên việc đặt ra van đề bảo vệ quyền phụ nữ dường như chưa được chú trọng va quan tâm. Hau hết phụ nữ không có quyền và đó được coi là điều hiển nhiên trong xã hội.
Vì vậy, vẫn đề bảo vệ quyền phụ nữ lại càng trở nên mong manh hơn. Tại Hy Lạp, có những ghi chép về việc phụ nữ ở Delphi, Gortyn, Thessaly, Megara va Sparta đã được hưởng các quyền như sở hữu đất đai — hình thức sở hữu tư nhân danh giá nhất vào thời điểm đó nhưng, sau thời đại cô xưa, các nhà lập pháp đã bắt đầu ban hành luật thực thi phân biệt giới tính, dẫn đến giảm bớt quyền phụ nữ.' Ở Athens cổ đại, phụ nữ không có tư cách pháp lý và được cho là một phan của oikos do các kyrios nam đứng đầu. Trước khi kết hôn, người phụ nữ phải chịu sự giám hộ của cha hoặc của người thân là nam khác và sau khi kết hôn, phụ nữ bị cấm tiễn hành các thủ tục pháp lý, các kyrios — người chồng sẽ thay người phụ nữ làm những điều đó. Phụ nữ Athens chi có thé tham gia vào một quan hệ hợp đồng nhưng có giá trị thấp hơn giá tri của “medimnos of barley” và được tham gia vào các hoạt động buôn bán lặt vặt không mang giá trị lớn.
Ngoài ra, phụ nữ ở Athens có quyền đối với tài sản thông qua quà tặng, hồi môn và thừa kế tuy nhiên, quyền định đoạt tài sản của phụ nữ lại thuộc về các kyrios cua ho. Trong thoi ky Athens cô dai, phụ nữ bị loại trừ khỏi nền dân chủ cả về nguyên tắc và thực tế, không một phụ nữ nào có được quyền công dân ở thời kỳ nay.’ Và đến thời kỳ Athens cô điển, quyền phụ nữ vẫn nằm trong vòng “cắm". Cuộc đấu tranh đầu tiên được ghi nhận dưới thời cổ Hy Lap, đó là phong trào : Nardo, Don (2000), Women of Ancient Greece, San Diego: Luscent Books, tr.28 a Blundell, Sue (1995), Women in ancient Greece, Volume 1995, Part 2, Harvard University Press, tr. 3 Robinson, Eric W, (2004), Ancient Greek democracy: readings and sources, Wiley — Blackwell, tr.
10 Lysistrata, bắt đầu cho cuộc tranh dau chống lại nam giới dé cham dứt cuộc chiến Peloponnesian. Những người phụ nữ đã cắm người đàn ông của họ đụng vào thân thé như một cách dé bắt cánh đàn ông thỏa hiệp. Day là một trong những sự kiện đầu tiên hay nói cách khác cuộc chiến của hai nửa thế giới bat đầu để đòi quyên lợi cho mình. Tại La Mã, Luật La Mã tương tự như luật Athen, nhưng quyên phụ nữ tại La Mã đã được chú trọng hơn nhiều (sau thế kỷ I đến thế kỷ VI TCN).
Xã hội La Mã theo chế độ phụ hệ, phụ nữ không được bầu cử, giữ chức vụ công hay phục vụ trong quân đội. Tuy nhiên, đến thời kỳ Dé Quốc, phụ nữ trong gia đình hoàng dé có thé có được quyên chính trị đáng kể và thường xuyên được miêu tả trong nghệ thuật chính thức va trên tiền đúc." Vào thời kỳ đầu tiên của Cộng hòa La Mã vào thời điểm Julius Caesar, phụ nữ có các quyền được thừa kế bang con trai nếu khi cha mat không dé lại di chúc, quyền sở hữu bắt kỳ tài sản nào khi mang theo trong cuộc hôn nhân. Theo Luật La Mã cô điển, người chồng không có quyền lạm dung thê xác hoặc ép buộc người phụ nữ quan hệ tình dục. Việc chồng đánh vợ là đủ căn cứ để người phụ nữ thực hiện quyền tự do ly hôn hoặc khởi kiện chồng.
Trong xã hội La Mã cô đại, người phụ nữ đã có một số quyền nhất định như có thé sở hữu tài sản, ký hợp đồng và tham gia kinh doanh, được xử lý những tài sản lớn, có thé hầu tòa và tranh luận các vụ án. b) Thời kỳ hậu co điển Khác với thời kỳ cô đại, van dé bảo vệ quyền phụ nữ tại thời kỳ hậu cô điển đã có những biểu hiện cho thấy sự tích cực trong quá trình “dau tranh”, bảo vệ quyền của người phụ nữ trong xã hội như: Tai Kinh sách tôn giáo, trong Kinh Thánh phụ nữ được mô tả là có quyền tự đại diện trước tòa, khả năng lập hợp đồng va các quyền mua, sở hữu, bán và thừa kế tài sản. Kinh thánh bảo đảm cho phụ nữ quyền quan hệ tình dục với chồng và ra lệnh cho chồng phải cho vợ ăn và mặc quần áo. Việc một người đàn ông đa thê vi phạm các quyén nay trong Cựu ước đã tạo cho người phụ nữ lý do dé ly dị “Nếu anh ta kết hôn với người phụ nữ khác, anh ta không có quyên được tước đoạt quyên ăn, quan do và hôn nhân của người đâu tiên.
Nếu anh ta không chu cấp cho cô ấy ba điều này, cô ấy sẽ được ra di tự do, không phải trả tién”.’ Những quy định trong Kinh thánh đảm bảo quyên cho phụ nữ trong thời kỳ này, thé hiện tư tưởng, sự của Kinh thánh đối với van dé bảo vệ quyền của họ trước xã hội. Tai Tây Au, van đề bảo vệ quyền phụ nữ được thé hiện khá rõ nét, quyền phụ nữ đã được bảo vệ bởi Giáo hội Cơ đốc giáo thời Trung cô ban đầu: một trong những quy định pháp lý chính thức đầu tiên về quyền của người vợ được ban hành bởi Hội đồng Adge vào năm 506, trong Giáo luật XVI quy định rằng nếu một người đàn ông * Walter Eck, The Emperor and His Advisors, Cambridge Ancient History (Cambridge University History, 2000), > Frank L. Caw, Jr, The Ultimate Deception. 11 đã kết hôn mà muốn chuyên sang làm linh mục cần phải được sự đồng ý của vợ." Nhìn chung ở châu Au trong thoi ky Trung cổ, phụ nữ bị áp lực buộc phải không tham dự các phiên tòa và giao mọi công việc kinh doanh hợp pháp cho chồng của họ.
Trong hệ thống pháp luật, phụ nữ bị coi như là tài sản của nam giới nên bất kỳ mối đe dọa hoặc thương tích nào đối với họ đều thuộc trách nhiệm của người giám hộ nam. Tai ludt pháp Ireland, phụ nữ không có quyền làm nhân chứng trước tòa; tai Pháp, lời khai của phụ nữ phải được chứng thực bằng các tài liệu khác nếu không sẽ không được chấp nhận; /udt pháp xứ Wales, lời khai của phụ nữ chỉ được chấp nhận với phụ nữ khác.' Khác với pháp luật các nước trong thời kỳ này, luật pháp Thụy Điền đã bảo vệ quyền phụ nữ, giúp họ thoát khỏi quyền lực của người chồng bằng cách chuyền giao quyền lực cho người thân nam giới của họ. Tài sản và đất đai của người vợ không thê được lay bởi người chồng nếu không có sự đồng ý của gia đình hoặc bà con họ hang. Phụ nữ theo pháp luật Thụy Điển sẽ có quyền được hưởng một nửa số tài sản thừa kế của anh trai họ.
Thụy Điển luôn có những quy định đi trước trong cách đối xử, cách bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ so với hầu hết các nước châu A. Tai Bắc Âu, trong thời dai Viking (khoảng năm 793 đến năm 1066), quyền phụ nữ đã có phần tương đối tự do ở các nước Bắc Âu được minh hoạ trong Iceland Grágás và Na Uy Frostating luật và Gulating luật. Nếu trong gia đình không có con trai và có người phụ nữ chưa kết hôn, người phụ nữ đó không chỉ có quyền được thừa kế tài sản mà còn có quyền làm chủ gia đình từ người cha hay người anh đã qua đời và người phụ nữ ấy được thực hiện tất cả các quyền dành cho người đứng đầu của một gia tộc. Phụ nữ thời kỳ này có “nhiều hơn một quyền” so với các thời kỳ, giai đoạn trước như có quyên quyết định nơi cư trú; có quyền đại điện mình trước pháp luật;Š” có quyền chọn bạn đời, ly di va tai hôn; quyền tự do hoạt động văn hóa, nghệ thuật, y học, hay hoạt động trong văn phòng quân đội;.
c) Thời kỳ hiện đại Có thể nói, đến thời kỳ hiện đại, van đề bảo vệ quyền phụ nữ đã được chú trọng và dành được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nước thông qua sự bùng nỗ các cuộc dau tranh đòi nữ quyền trên toàn thế giới và việc đưa ra các quy định về quyền phụ nữ trên cơ sở pháp lý. Cuộc đấu tranh đòi quyền lợi của phụ nữ thực sự bắt đầu và bùng nô vào cudi thế ki XVIII khi các nước châu Âu và Bắc Mỹ dưới chế độ tư bản hà khắc đã áp bức bóc lột giai cấp ngày càng nặng nè, đặc biệt là đối với phụ nữ. Điều nay đã thôi bùng ° Halfond, Gregory I. (2010), Archaeology of Frankish Church Councils.
7 Bardsley, Sandy (2007), Women’s Roles in the Middle Ages, Greenwood Publishing Group. 8 Borgström Eva, (2002), Makalösa kvinnor: könsöverskridare i myt och verklighet (Marvelous women: gender benders in myth and reality) Alfabeta/Anamma, Stockholm. 12 lên ngọn lửa đòi quyền bình đăng về giờ làm, đòi tăng lương và quyền bầu cử. Đánh dấu cho việc này chính là sự kiện ngày 8/3/1857, 15.000 nữ công nhân lao động ngành dệt may Thành phố New York (Mỹ) đã diễu hành và đình công đòi được cải thiện điều kiện làm việc và đảm bảo quyên bình đăng cho phụ nữ.
Dấu mốc 8/3 được xem như là sự kiện lịch sử của phụ nữ, dấu mốc này đã truyền đi ngọn lửa đòi quyền lợi của phụ nữ trên toàn thé giới sau này. Điển hình, có thể kế đến cuộc đấu tranh năm 1917 ở Nga, trong bối cảnh chiến tranh, 90.