Chương 1: TONG QUAN 1. Khai quat về ăn mòn kim loại [6, 10, 11, 13] 1. Khái niệm về ăn mòn kim loại Ăn mòn kim loại là sự phá huỷ kim loại hoặc hợp kim do tác động lí hoá học của môi trường xung quanh. Hậu quả của sự ăn mòn kim loại là nguyên tử kim loại bị oxi hoá thành ion kim loại và mat đi những tính chất quý của kim loại: M-ne=MTM 1.
Phân loại các quá trình ăn mon kim loại Căn cứ vào môi trường và cơ chế của sự ăn mòn kim loại, người ta phân làm hai loại chính là ăn mòn hoá học và ăn mòn điện hoá. Ăn mòn hoá học [1, 6, 7] Ăn mòn hoá học là sự phá huỷ kim loại bởi phản ứng hoá học dị thể giữa bề mặt kim loại và môi trường phản ứng ở nhiệt độ cao. Kim loại bị chuyền thành ion kim loại va đi vào môi trường trong cùng một giai đoạn. Môi trường phản ứng là những chất khí có tính oxi hoá cao, ví dụ khí O›, khí CL, khí CO.
Sự phá huỷ kim loại do các dung môi không nước cũng diễn ra theo cơ chế này. Đặc điểm của ăn mòn hóa học là không phát sinh dòng điện và nhiệt độ càng cao thì tôc độ ăn mòn càng lớn. Vị dụ: quá trình oxy hoá kim loại bằng khí oxy (hoặc các khí khác như SO¿, các khí halogen, hơi HO.) xảy ra ở nhiệt độ cao. Ăn mòn điện hoá [9, 10, 11] Ăn mòn điện hoá là sự phá huỷ kim loại do sự tương tac hoá học giữa kim loại và dung dịch chất điện li.
Nói một cách khác là: sự ăn mòn điện hoá là phan ứng oxy hoá khử di thé xảy ra trên bề mặt giới hạn tiếp xúc giữa kim loại và dung dịch chất điện li tại hai khu vực khác nhau: khu anot và khu catot có giá trị thế đương hơn khu anot. * Qua trình ăn mòn điện hoá xảy ra tương tự sự hoạt động cua một pin điện bị khép kín mạch. Trên bề mặt kim loại tồn tại các vùng anot và catot là do sự chênh lệch về thế trên bề mặt giới hạn pha (do sự có mặt của phụ gia hợp kim, do sự lệch mạng các tinh thé kim loại. Các phản ứng xảy ra như sau: Vùng anot xảy ra quá trình oxi hóa tức là kim loại bi hoa tan: Me - ne > MeTM lon kim loại trên bề mặt điện cực chuyển vào dung dich đồng thời có electron dư trên kim loại.
Các electron dư ở vùng anot được dịch chuyền đến vùng catot trên bề mặt kim loại. Vùng catot xảy ra các phản ứng: - Nếu môi trường ăn mòn là axít thì phản ứng catốt xảy ra nH* + ne > n/2H; - Nếu môi trường là trung tính có dư khí O; trên catốt xảy ra phan ứng n⁄4O; + n/2H;O + ne = nOH © Do hai quá trình anốt và catốt diễn ra liên tục nên kim loại bị phá huỷ dần dần. Ở quá trình anốt xảy ra sự oxy hoá kim loại trong khi ở quá trình catốt xảy ra sự khử các chất khử phân cực (chất nhận e). Quá trình chuyên kim loại thành ion gọi là quá trình anốt, nó luôn gan liền với quá trình catốt - sự khử ion H* hoặc O; đồng thời sinh ra dòng điện.
* Điều kiện xảy ra ăn mòn điện hoá - Các kim loại không nguyên chất hoặc hợp kim: kim loại-phi kim (gang, thép) hình thành các cặp điện cực khác nhau. - Các điện cực đó tiếp xúc với dung dịch chất điện li. - Các điện cực tiếp xúc với nhau (trực tiếp hoặc gián tiếp) * Phân loại ăn mòn điện hoá, dựa theo hai qua điểm: Phụ thuộc vào môi trường ăn mòn: - Ăn mòn khí quyên: nghĩa là ăn mòn các kim loại trong khí quyền hay các khí âm ướt khác. - An mon trong chat điện li: axit, bazo, mudi.
- Ăn mòn dưới đất: ăn mòn kim loại đặt dưới mặt đắt. - Ăn mòn điện: do dòng điện hay dòng lang thang. - Ăn mòn dưới tác dụng của áp lực: tác động cơ học như sự gãy nứt do quá tải của cầu sắt, cầu trục. - Ăn mòn sinh vật học: gây ra do các vi sinh vật hay những sản phẩm chuyển hoá của chúng.
Theo trạng thái bề mặt kim loại: Theo cách này, ăn mòn được phân ra làm 3 nhóm. Nhóm 1: sự ăn mòn đồng đều (uniform corrosion) - An mòn nứt (crevice corrosion) - Ăn mòn điện hoá (galvanic corrosion) - Ăn mòn điểm (pitting corrosion) Nhóm 2: Ăn mòn bồ sung. - Sự ăn mòn do mai mòn hay sự ăn mon phong hoá (erosion corrosion) - Sự ăn mòn tạo lỗ hồng (cavitation) - Sự ăn mòn làm mòn (gam mòn dan-fretting corrosion) - Sự ăn mòn giữa các tinh thé (intergranuar corrosion) Nhóm 3: phân loại thông qua kính hién vi điện tử hay quang hoc - Sự tróc mảng (exfoliation) - Sự ăn mòn chọn lọc (có chọn lọc-Dealloying selective leaching) - Sự ăn mòn bẻ gay (stress corrosion cracking) - Sự ăn mòn mỏi làm giảm sự chịu đựng của kim loại (corrosion fatigue) * Một sô dạng ăn mòn WE), 7722 OY (a) (b) (c) | S95 Bàn (e) (f) Hình 1.1: Một số dạng ăn mòn Chu thích (a): Ăn mòn đều trên bề mặt (b): Ăn mòn không đều trên bề mặt (c): Ăn mòn hang hốc (d): Ăn mòn điểm (e): An mòn giữa các tinh thé (0: An mòn xuyên tinh 1. Tiêu chuẩn đánh giá độ ăn mòn [8, 11] Có 9 chỉ tiêu đánh giá mức độ ăn mòn của kim loại (đánh giá định lượng) 1.
Chỉ tiêu khuynh hướng an mòn (K,) Là thời gian tính bang giờ hoặc ngày xuất hiện vết ăn mòn đầu tiên trên một diện tích nhất định của bề mặt kim loại. Chỉ tiêu vét ăn mòn (k„) Là lượng vết ăn mòn xuất hiện trên một đơn vị diện tích trong một thời gian xác định t. Chỉ tiêu chiều sâu ăn mòn (P) Là chiều sâu phá huỷ (trung bình hoặc cực đại) trên bề mặt mẫu kim loại trong một thời gian xác định: P= Q ở đó Q: là tốc độ ăn mon đơn vị g/m”. O CO d: là khối lượng riêng của kim loại đơn vị g/cm? Vì vậy thứ nguyên của P là mm/năm 1.
Chi tiêu thay doi khối lượng Là sự thay đôi khối lượng của mẫu kim loại bị ăn mòn trên diện tích bề mặt kim loại trong thời gian t. Có hai chỉ tiêu thay đổi khối lượng: - Chỉ tiêu giảm khối lượng: k„ =" (g/m2») - Chỉ tiêu tăng khối lượng: k} =—— Trong đó: Am: là trị số hao hụt khối lượng mẫu trên 1 đơn vị diện tích t: Thời gian làm thí nghiệm 1. Chi tiêu thé tích ăn mòn Trong đó: V: Là thể tích hấp thụ hoặc thoát ra trong quá trình ăn mòn trên diện tích bề mặt mẫu t: Trong thời gian làm thí nghiệm s: Diện tích bề mặt 1. Chỉ tiêu dòng điện ăn mon (izm) Là mật độ dòng điện tương ứng với tốc độ của quá trình ăn mòn kim loại nhất định, don vị tính mA/cm” (hoặc A/cm’).
Chỉ tiêu thay đổi tính chất cơ học do ăn mòn Là sự thay đổi các chỉ tiêu cơ học của vật liệu do tác dụng ăn mòn của môi trường trong khoảng thời gian nhất định. Chỉ tiêu thay đổi điện trở Là sự thay đôi điện trở của mẫu kim loại bị ăn mòn trong thời gian nhất định K, =`Ê 100% Ro Trong do: Kg: Chỉ tiêu thay đôi điện trở AR: Trị số thay đôi điện trở Ro: Trị số điện trở của mẫu không bị ăn mòn 1. Chỉ tiêu phản xạ do ăn mòn Là sự thay đổi khả năng phản xạ của bề mặt kim loại trong thời gian bị ăn mòn. Các phương pháp chống ăn mòn kim loại [6, 10, 11, 13, 19, 21, 22] 1.
Chọn và chế tạo vật liệu có độ bền vững chỗng ăn mòn cao Việc lựa chọn vật liệu có độ bền chống ăn mòn cho từng loại môi trường là vấn đề rất có ý nghĩa về mặt chống ăn mòn kim loại. Một số kim loại của nhóm platin, vàng, đồng, niken, molipđen có độ bền nhiệt động cao trong môi trường axit không có tính oxI hoá. Những kim loại dễ đi vào trạng thái thụ động: crôm, hợp kim chứa crôm, thép chống ăn mòn chứa titan, nhôm. Những kim loại có khả năng tạo lớp sản phẩm ăn mòn, lớp này có khả năng bảo vệ chống sự ăn mòn tiếp theo: đồng, kẽm, thiếc.
Bên cạnh việc lựa chọn vật liệu, việc chế tạo vật liệu mới có độ bền chống ăn mòn cao lại càng có ý nghĩa thực tế. Để có hợp kim có độ bền chống ăn mòn cao người ta thường sử dụng các phụ gia. Phụ gia là những nguyên tố kim loại được đưa thêm vào kim loại nhằm tạo ra một màng sản phẩm ăn mòn có khả năng bảo vệ tốt hoặc làm giảm hoạt tính catot hay anot trên bề mặt kim loại. Cách ly kim loại với môi trường [10, 11] 1.
Sử dụng lớp phủ phi kim - Lớp phủ oxít: Tạo ra lớp màng oxít bền trên bề mặt kim loại nhằm ngăn cản việc tiếp xúc của kim loại với môi trường. - Phôtphat hoá: Cho các chi tiết bang thép vào trong dung dịch muối phôtphat của các kim loại như Mn, Fe, Zn. Khi đó xuất hiện một màng xốp muối phôtphat khó tan trên bề mặt chỉ tiết. Lớp này ngoài việc bảo vệ kim loại còn là nền tốt dé sơn phủ hoặc tâm dau.
- Sơn và vecni: Là những sản phẩm lỏng dé quét hoặc phun lên vật liệu kim loại (hoặc phi kim). Sơn phủ thường là những hợp chất polime có độ bao phủ và bám dính tốt, vecnic cũng có ưu điểm cứng, nhẫn, bóng, có độ bám dính tốt. Sử dụng lớp phu kim loại - Lớp mạ điện: Kim loại cần bảo vệ được phủ lên bề mặt các lớp mạ như Zn, Cd, Ni, Cr, Sn. mạ điện được tiến hành với dòng điện một chiều.
Vật cần mạ là catốt được nối với cực âm của nguồn điện, cực anốt là kim loại dùng dé mạ được nối với cực dương. Khi lớp mạ catốt có điện thế dương hơn kim loại cần bảo vệ thì lớp mạ phải đặc sít không có lỗ xốp. Khi lớp mạ catốt có điện thế âm hơn kim loại cần bảo vệ thì lớp mạ sẽ bị hoà tan còn kim loại nền được bảo vệ. - Lớp phủ nhiệt khuyếch tán: Là những lớp phủ tạo thành do khuyéch tán từ pha ran hay khí của nhôm (lớp phủ nhiệt nhôm), Crôm (lớp phủ nhiệt Cr), Si (lớp phủ nhiệt Silic) vào kim loại chính (thép).
Quá trình tiến hành ở nhiệt độ cao trong chân không, môi trường trung tính, hay khử, trong khí Clo.