CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐÁ MÀI cBN VÀ MÀI 1. Tổng quan về đá mài cBN 1. Thành phần và cấu trúc của đá mài Dụng cụ cắt sử dụng trong nguyên công mài là đá mài. Đá mài đóng vai trò rất quan trọng đến chất lượng, năng suất và giá thành mài, đặc biệt là trong các nguyên công mài định hình như mài bề mặt răng của bánh răng, mài các bề mặt dẫn hướng,… Cấu trúc của đá mài là một thể gồm 3 pha: Hạt mài làm nhiệm vụ cắt kim loại; chất dính kết có nhiệm vụ liên kết các hạt mài lại với nhau thành một khối; lỗ khí có trong đá mài.1 thể hiện nguyên lý cấu tạo của đá mài đa lớp.
Một số đặc điểm cơ bản của 3 thành phần đá mài đa lớp gồm: a) Hạt mài: Hạt mài là thành phần chính của đá mài, mỗi hạt mài có nhiệm vụ như một lưỡi cắt nên nó phải có yêu cầu như các loại vật liệu làm lưỡi cắt. Hình dạng hình học của các hạt mài thường không thuận lợi cho quá trình cắt. Hầu hết các hạt mài đều có góc cắt âm. Hạt mài phải có độ cứng rất cao, nó được chia ra hai loại: Hình 1.1: Đá mài đa lớp - Loại phổ thông (hạt mài truyền thống): như nhôm ôxít (Al2O3), silic cacbua (SiC); - Loại đặc biệt (hạt mài siêu cứng): gồm cBN và kim cương.
b) Chất dính kết: Chất dính kết làm nhiệm vụ liên kết các hạt mài lại với nhau thành một khối, giữ cho các hạt mài không bị văng ra khỏi đá khi cắt vào chi tiết gia công và các chất dính két có yêu cầu sau: - Tạo ra được độ kết dính phải đủ bền để có thể chịu được tác động của lực mài, nhiệt độ và các lực li tâm mà không bị vỡ ra; - Chịu được các tác dụng hoá học từ các dung dịch trơn nguội khi cắt; - Đảm bảo độ rắn chắc, có khả năng giữ được các hạt mài trong quá trình gia công; - Có khả năng loại bỏ những hạt mài đã bị cùn trong quá trình mài ra khỏi đá; Có 3 loại chất dính kết cơ bản được sử dụng là: kim loại, thuỷ tinh hoá và nhựa. c) Lỗ khí: Các lỗ khí có mặt trong đá đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến 14 khả năng cắt gọt của đá cũng như thời gian và chất lượng của quá trình sửa đá. Hiện nay, đá mài được chế tạo ở hai dạng là đá mài đa lớp (đá mài thông thường) và đá mài đơn lớp: 1. Đá mài đa lớp: Là loại đá mài được chế tạo thành khối gồm nhiều lớp hạt mài gắn lên một thân đá hoặc là nguyên khối và các lớp hạt mài này sẽ bị mòn hoặc bong ra trong quá trình mài.
Vật liệu hạt mài để chế tạo đá mài này thể là các vật liệu hạt mài thông thường như silic cácbua, nhôm ôxít,… hoặc các vật liệu hạt mài siêu cứng như kim cương, cBN. Đối với đá đa lớp của các hạt mài thông thường đá được chế tạo cả khối, còn với đá mài chế tạo bằng kim cương và cBN thì được chế tạo một lớp mỏng khoảng 3 mm sau đó dán lên lõi làm bằng thép hoặc một kim loại hay hợp kim thích hợp nào đó. Đá mài đơn lớp Đá mài đơn lớp được tạo ra bằng cách tạo một lớp hạt mài bao quanh một lõi kim loại (hình 1. Đá mài đơn lớp chỉ được chế tạo bằng các hạt mài siêu cứng như hạt mài cBN hoặc kim cương để đảm bảo tuổi thọ của đá.
Đá mài đơn lớp sau khi chế tạo không cần phải sửa đá như các đá mài đa lớp mà chỉ cần làm sạch bề mặt là có thể đưa vào gia công. Đối với đá mài đơn lớp, lớp phủ tương ứng với đường kính trung bình của hạt mài. Phần nhô ra khỏi Hình 1.2: Đá mài đơn lớp chất dính kết của các hạt mài quyết định khoảng không gian thoát phoi và phần tham gia quá trình cắt của hạt mài. Do vậy khi chế tạo loại đá mài này cần xác định hợp lý phần hạt nằm trong chất dính kết để vừa có thể neo giữ hạt mài trong chất dính kết vừa đảm bảo khoảng thoát phoi hợp lý.
Nếu phần chôn lấp của hạt mài trong chất dính kết lớn thì sẽ làm giảm khoảng thoát phoi và phần hạt mài tham gia quá trình cắt. Ngược lại, nếu phần nhô ra của hạt mài quá lớn thì khoảng cắt và thoát phoi lớn nhưng lại làm giảm khả năng neo giữ hạt mài trong chất dính kết làm hạt mài dễ bị bong ra trong quá trình cắt. Đặc điểm của hạt mài cBN Hạt mài là thành phần tạo ra các lưỡi cắt của đá mài. Do vậy, đặc điểm cơ lý 15 hóa tính của hạt mài ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình cắt của nó.
cBN là một trong các loại hạt mài được sử dụng rộng rãi gần đây. Hạt mài cBN được dùng thay thế cho nhôm ôxít để chế tạo đá mài mài ổ bi, các chi tiết ô tô và các chi tiết hàng không vũ trụ. cBN được tổng hợp từ bo nitrít ở dạng thù hình là lục giác lớp (“Graphit trắng”) hay còn gọi là HBN với chất xúc tác, nhiệt độ 1537 °C y 2038°C (2800°F y 3700°F) và áp suất 3,45 MPa y 6,2 MPa tạo ra cấu trúc tinh thể bền, cứng, có dạng khối với góc sắc bén được gọi là cBN. cBN lần đầu tiên được tổng hợp bởi nhà khoa học Wentdorf tại Công ty General Electric (GE) vào năm 1957 và được thương mại hóa sau 12 năm vào năm 1969.
Do có độ cứng rất cao và độ dai va đập lớn, đá mài làm bằng cBN có khả năng gia công với độ chính xác cao, quá trình cắt ổn định và do vậy có thể tạo ra chất lượng bề mặt gia công tốt và ổn định. Hạt mài cBN được coi là loại vật liệu hạt mài tốt nhất hiện nay khi mài thép cácbon sau nhiệt luyện vì: Tính ổn định nhiệt cao hơn kim cương, không có ái lực với cácbon và do vậy không bị mòn ma sát do sự khuyếch tán cacbon như kim cương. Với các đặc tính ưu việt đó, đá mài cBN đã và đang là đối tượng nghiên cứu trong các quá trình mài gần đây, đặc biệt là trong mài định hình hay mài có chiều sâu cắt lớn và bước tiến dao nhỏ (Feed- Creep Grinding). Các loại hạt cBN Nếu phân chia hạt cBN theo sử dụng lớp phủ hay không có lớp phủ, hạt mài cBN có 2 loại: - Borazon cBN loại 1 là hạt mài không có lớp phủ được sử dụng để chế tạo đá mài liên kết kim loại; - Borazon cBN loại 2 là các hạt cBN có phủ Niken được sử dụng để chế tạo đá mài với các liên kết nhựa để mài khô và ướt các chi tiết thép tôi.
Sự ưu việt của hạt mài cBN thể hiện ở một số đặc tính chính là: độ cứng, độ chịu mài mòn, độ bền nén, tính dẫn nhiệt, lực cắt và rung động, những đặc tính này rất cần thiết khi mài các vật liệu siêu cứng và mài ở tốc độ tách bỏ vật liệu cao. Hạt cBN được sản xuất chủ yếu bởi công ty General Electric (GE) (Hoa Kỳ), bởi De Beers từ các địa điểm ở châu Âu và Nam Phi và Showa Denko từ Nhật Bản. Nga và Romani cũng đã sản xuất được cBN cách đây hơn 30 năm và gần đây Trung Quốc đã trở thành một nhà sản xuất quan trọng loại vật liệu này. Người ta cho rằng dự kiến giá cBN sẽ giảm mạnh trong thập kỷ tới, cung cấp những cơ hội mới cho công nghệ mài sử dụng hạt mài cBN.3 thể hiện một số hạt mài cBN do GE chế tạo.
16 a) cBN có lớp phủ b) cBN không có lớp phủ Hình 1.3: Hình ảnh một số loại hạt cBN của GE Hình 1.4: Các mặt phát triển của tinh thể CBN và hình thái hình học Bo nitrit thường ở dạng thù hình là lục giác (như grafit) gọi là HBN hoặc α- BN tương tự như grafit nhưng các nguyên tử bo và nitơ thay thế cho các nguyên tử cácbon. Wentorf nhận thấy sự tương đồng về cấu trúc của nó với grafit và tiến hành xác định nhiệt độ thích hợp để chuyển thành dạng cấu trúc khối-cBN (J-BN). cBN không có trong tự nhiên mà chỉ tạo ra bằng phương pháp tổng hợp trong điều kiện nhiệt độ và áp suất tương tự như tạo ra kim cương tổng hợp Hình thái của hạt cBN, như của kim cương, có thể điều khiển khi tổng hợp bằng mối quan hệ giữa sự phát triển theo mặt bát diện (111) và mặt khối (100). Điều đó được điều khiển bởi sự phối hợp nhiệt độ và áp suất.
Khi phát triển nhiều theo mặt (111), nhưng vì có cả bo và Hình 1.5: Ảnh một số hạt cBN thương mại nitơ trong mạng, một vài mặt (111) bị kết thúc bởi các nguyên tử bo hoặc các 17 nguyên tử nitơ. Khi tạo ra trên mặt (111) kết thúc bởi các nguyên tử bo và kết quả là tạo ra hình thái của tinh thể là tứ diện cụt nhưng tạo ra các mặt song song hoặc khối bát diện cũng thường gặp như trong (hình 1.4) cBN có khả năng tạo ra nhiều loại hình dạng của hạt hơn kim cương. Khi cBN nguyên chất và cân bằng thì ở dạng không màu, nhưng các hạt mài bán trên thị trường (hình 1.5) thường có nhiều dạng từ màu hổ phách đến màu nâu đến màu đen phụ thuộc vào mức độ và loại tạp chất mà nó chứa, màu đen thường là sự dư thừa của Bo. Tính chất cơ lý của hạt mài cBN a.
Độ cứng Độ cứng của cBN ở nhiệt độ phòng xấp xỉ 4500 kG/mm2 bằng khoảng một nửa độ cứng của Kim cương và gấp đôi độ cứng của các hạt mài thông thường (hình 1.6) Đá mài kim cương và đá mài cBN có nhiều tính chất tương tự nhau nhưng chúng có các ứng dụng khác nhau. Do kim cương có thành phần cơ bản là cacbon nên chúng phản ứng với sắt trong thép, khi làm việc ở tốc độ cao, lượng nhiệt phát sinh lớn, ái lực của thép với cacbon tăng nhanh, các phân tử cacbon bị hút vào thép làm cho kim cương bị ăn mòn. Mặt khác ở nhiệt độ 600 ÷ 7000qC khi kim cương tiếp xúc với không khí sẽ bị ăn mòn do quá trình ôxy hóa. Do đó ngày nay đá mài cBN được coi là dụng cụ hảo hạng trong việc mài các vật liệu chứa sắt vì nó ổn định đến 1371oC và không phản ứng với sắt .6: Độ cứng của các loại hạt mài b.
Tính chịu nhiệt của cBN cBN có tính ổn định nhiệt trong nitơ và chân không tới nhiệt độ 1500 OC.