CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Tình hình nghiên cứu áp dụng kết cấu áo đường hợp lý cho đường có quy mô giao thông lớn, có nhiều xe tải nặng trên thế giới và Việt Nam. Tình hình nghiên cứu áp dụng kết cấu áo đường hợp lý cho đường có quy mô giao thông lớn, có nhiều xe tải nặng trên thế giới. Trong nội dung này, học viên tập trung nghiên cứu tổng quan về thiết kế cấu tạo các loại kết cấu áo đường mềm được áp dụng hay khuyến khích sử dụng cho các tuyến đường có quy mô lớn trong hệ thống Tiêu chuẩn của một số nước như Trung Quốc, Mỹ, Úc, Nhật Bản.
Về phạm vi nghiên cứu của tuyến đường có quy mô giao thông lớn, trong nghiên cứu này sử dụng theo quy định tại mục 1.3 của Hướng dẫn ban hành cùng QĐ số 858 của Bộ GTVT, đường có quy mô giao thông lớn ở đây được tạm hiểu là các tuyến đường có lưu lượng xe lớn và/hoặc có nhiều xe khách lớn, xe tải lớn lưu thông, cụ thể là các tuyến đường có tống số trục xe tiêu chuẩn tích lũy trong thời hạn thiết kế (xác định tại mục A.2 của tiêu chuẩn 22TCN 211-06) Ne ≥ 5.106 trục hoặc các tuyến đường có số xe tải hạng trung trở lên và xe khách lớn trung bình ngày đêm lưu thông trên một làn xe N ≥ 1500 xe/ngày đêm. Nguyên lý, phương pháp và trình tự thiết kế kết cấu áo đường mềm ở Trung Quốc. Về nguyên lý và phương pháp thiết kế kết cấu áo đường của Trung Quốc là khá tương đồng với Việt Nam. Theo báo cáo của Viện nghiên cứu giao thông vận tải Jiangsu, lịch sử nghiên cứu thiết kế tính toán kết cấu áo đường của Trung Quốc có thể tính từ năm 1958, khi đó Trung Quốc sử dụng phương pháp tính toán theo Liên Xô (cũ) đó là phương pháp Ivanop, lấy trị số biến dạng tương đối cho phép (λcp) làm đặc trưng cho trạng thái làm việc 4 giới hạn của mặt đường với tải trọng tiêu chuẩn tính toán là tải trọng trục 8 tấn.
Năm 1966 có điều chỉnh bổ sung về các thông số vật liệu nhưng vẫn giữ phương pháp tính cũ. Năm 1978 thay thế phương pháp tính bằng sử dụng độ võng cho phép như là giá trị tính toán thiết kế và bổ sung thêm nội dung kiểm toán ứng suất kéo vào năm 1986. Năm 1997, Trung Quốc ban hành Tiêu chuẩn JTJ 014-97 trong đó điều chỉnh sử dụng Độ võng đàn hồi giới hạn như là giá trị thiết kế, thể hiện là mô đun đàn hồi chung của kết cấu mặt đường thiết kế phải lớn hơn mô đun đàn hồi yêu cầu được xác định từ lưu lượng xe trục tải trọng trục tiêu chuẩn 10 tấn trung bình ngày đêm của năm thiết kế cùng với kiểm toán ứng suất kéo tại đáy lớp BTN. Tính đến thời điểm hiện tại, Trung Quốc đang sử dụng Tiêu chuẩn JTG D50-2006 (Tiêu chuẩn thiết kế mặt đường BTN), điểm thay đổi về nguyên lý tính toán của Tiêu chuẩn này chính là sử dụng độ võng đàn hồi và ứng suất kéo như là một giá trị yêu cầu khi thiết kế.
5 Hình 1-1: Sơ đồ trình tự thiết kế kết cấu áo đường theo TC Trung Quốc 1. Phân loại đường theo quy mô giao thông.8 của Tiêu chuẩn JTG D50-2006 quy định 4 cấp đường 6 theo lưu lượng tích lũy (Ne) và lưu lượng xe khách và xe tải cỡ trung trở lên chi tiết trong bảng sau: Bảng 1.1 : Phân cấp đường theo quy mô giao thông, JTG D50-2006 STT Cấp đường Số trục xe tiêu chuẩn Xe khách và xe (mức giao thông) tích lũy (Ne – trục tải trung trở lên xe/làn) (xe/ngày.5x107 >3000 Theo chỉ dẫn kỹ thuật thiết kết kết cấu mặt đường của Tỉnh Quảng Đông Trung Quốc (bảng 3.2) mức độ giao thông được phân loại như sau: Bảng 1.2: Phân loại mức độ giao thông của tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc Cấp đường (mức Rất nặng Nặng Vừa Nhẹ độ giao thông) Loại 1 Loại 2 Loại 3 Số trục Mặt 1200~2 300~1 xe chuẩn đường >2500 <300 500 200 tích lũy, BTN Ne (triệu Mặt trục / làn) 100~20 đường >2000 3~100 <3 00 BTXM Ô tô khách và xe tải 3000~5 2000~3 1200~2 800~1 cỡ trung trở lên[xe/ >5000 <800 000 000 000 200 (ngày • làn)] 7 1. Kết cấu điển hình cho đường giao thông quy mô lớn ở Trung Quốc Khi thiết kế kết cấu mặt đường BTN dùng cho các tuyến đường ô tô có quy mô giao thông lớn Trung Quốc luôn chú trọng các biện pháp hạn chế vệt hằn do tích lũy biến dạng và hiện tượng xuất hiện vệt hằn sớm, vệt hằn sâu hai bên bị đẩy trồi lên cao do các lớp kết cấu không đủ cường độ chống cắt trượt. Do vậy, trong một số nghiên cứu hoặc dự án đã thi công, Trung Quốc bố trí BTN tầng mặt thành 3 lớp, bố trí lớp bê tông nhựa chặt loại hạt mịn ở trên cùng với bề dày từ 3,0 - 4,0cm rồi đến 4,0 – 6,0cm bê tông nhựa hạt trung và 5,0 – 6,0cm bê tông nhựa hạt lớn.
Hoặc cũng có thể bố trí trên cùng là lớp bê tông nhựa chặt loại hạt trung dày 4,0 – 5,0cm rồi đến 2 lớp bê tông nhựa hạt lớn dày 5,0 – 6,0cm và 6,0 – 8,0cm ở dưới. Theo báo cáo kết quả nghiên tại Hội nghị khoa học về thiết kế và thi công mặt đường BTN tại Quảng Tây. Kết cấu tổng thể chung được sử dụng cho các tuyến đường giao thông quy mô lớn được đánh giá là khá thành công bao gồm các lớp như hình vẽ. Hình 1-2: Kết cấu điển hình sử dụng cho đường GT quy mô lớn đưa ra tại Hội nghị KHKT Quảng Tây 8 Tùy theo quy mô giao thông, tầng mặt BTN có thể bố trí thành 2 hoặc 3 lớp.
Lớp mặt thường sử dụng BTNC 13 hoặc SMA chất kết dính là nhựa thường hoặc nhựa polymer. Đối với lớp giữa thường sử dụng BTNC 20, chất kết dính là nhựa thường hoặc nhựa polymer. Lớp móng của tầng mặt, thường sử dụng BTNC 20. Lớp dính bám giữa các lớp BTN có thể sử dụng nhũ tương polime tăng chất lượng dính bám giữa các lớp.
Kết cấu áo đường mềm dùng cho các tuyến đường ô tô có quy mô giao thông lớn ở Trung Quốc ít nhất phải có một lớp móng trên bằng vật liệu toàn khối, như cấp phối đá dăm gia cố xi măng hoặc bê tông nhựa rỗng, tiếp đó là các lớp móng dưới bằng cấp phối đá dăm gia cố xi măng hoặc cấp phối thiên nhiên gia cố xi măng cường độ thấp hơn hoặc bằng cấp phối đá dăm không gia cố. Để giảm tổng bề dày kết cấu áo đường, giảm số lớp phải thi công (có lợi cho tiến độ thi công và có thể có lợi cả về kinh tế) chọn vật liệu làm lớp móng dưới có mô đun đàn hồi cao và tính ổn định với nước tốt, do vậy đối với đường cấp cao và đường có giao thông quy mô lớn ở Trung Quốc ít sử dụng lớp móng là các vật liệu cấp phối đá tự nhiên không gia cố. Thường sử dụng móng cấp phối đá dăm gia cố xi măng một hoặc hai lớp. Trong điều kiện bất lợi cho việc sử dụng móng đường gia cố xi măng thì thay thế bằng lớp móng đá dăm đen (ATB) để tăng tính ổn định và chịu lực cho kết cấu áo đường mềm.
Chú ý, trong trường hợp sử dụng móng đường là lớp đá gia cố xi măng, Trung Quốc thường thiết kế một lớp gọi là ”lớp quá độ” nhằm hạn chế nứt phản ảnh từ móng đường lên lớp BTN phía trên. 9 Hình 1-3: Một số kết cấu áo đường được sử dụng phổ biến ở Trung Quốc Chiều dày nhất định của lớp mặt đường BTN đóng 1 vai trò quan trọng trong việc cải thiện tổng thể khả năng làm việc của lớp BTN, nhưng nếu chiều dày lớp BTN quá dày thì sẽ có thể gây ra hiện tượng hằn lún bánh xe nghiêm trọng, tăng chiều dày lớp BTN để cải thiện ứng suất cắt trong lớp BTN không phải là cách tốt nhất, do vậy trong điều kiện tải trọng nặng cần chọn một phạm vi chiều dày hợp lý. Trên thế giới hiện tại đại bộ phận đều đang sử dụng phổ biến kết cấu áo đường nửa cứng, nhưng kết cấu mặt đường này dưới tải trọng nặng thì khả năng xuất hiện hư hỏng sớm là rất cao, do vậy nhiều nước trên thế giới đã đề xuất một loại kết cấu mới đó là loại kết cấu mặt đường toàn chiều dày BTN (full depth Asphalt pavement) có tính tương thích cao đối với đường tải trọng lớn, đặc biệt thích hợp đối với tình trạng xe quá tải đang ngày càng nhiều trên các tuyến quốc lộ như hiện nay. Kết cấu toàn chiều 10 dày BTN đã sử dụng thành công ở nhiều nước như Anh, Mỹ.tuổi thọ sử dụng có thể đạt đến 50 năm.
Do vậy, đưa kết cấu mặt đường này ứng dụng vào nước ta để sử dụng cho đường quy mô giao thông lớn là rất hợp lý và cần thiết. Khái niệm thiết kế toàn chiều dày BTN đại diện cho một xu hướng mới của KCMĐ cao tốc nước ngoài, có tính khả thi họp lý cao. Tổng chiều dày của lớp kết cấu này mỏng hơn so với tổng chiều dày của lớp móng thông thường, đồng thời có khả năng làm giảm các rạn nứt do mỏi, do vậy có thể khống chế được các hư hỏng KCMĐ chỉ xảy ra ở lớp trên. Vì vậy khi mặt đường hỏng đến một mức độ nhất định, chỉ cần thay thế lớp trên mà không ảnh hưởng đến cao độ của mặt đường.
Đây cũng là cách sửa chữa hiệu quả kinh tế nhất. Cốt lõi của loại thiết kế kết cấu này là dựa vào chức năng của từng lớp để bố trí hợp lý các lớp, tạo ra một kết cấu mặt đường có lớp mặt có khả năng chống lún tốt, hạn chế khả năng thấm nước và mài mòn, lớp giữa có độ bền cao, lớp dưới có khả năng chống mỏi tốt. Loại KCMĐ này vẫn chưa được nghiên cứu nhiều ở nước ta, để ứng dụng cho đường quy mô giao thông lớn, chúng ta rất cần thiết để nghiên cứu sâu hơn về KCMĐ này. Nguyên lý, phương pháp và trình tự thiết kế kết cấu áo đường mềm ở Mỹ Đối với nước Mỹ, kết cấu áo đường đã được thiết kế bằng phương pháp pháp dựa trên kinh nghiệm (Empirical method).
Nghĩa là mối quan hệ giữa dữ liệu đầu vào (như: tải trọng, vật liệu, kích thước lớp vật liệu, yếu tố môi trường…) và sự phá hoại áo đường được xác định dựa trên kinh nghiệm, thí nghiệm hoặc kết hợp cả hai.