Chương 1: Cơ sở lý luận về huy động vốn của ngân hàng thương mại. - Chương 2: Phương pháp luận và thiết kế nghiên cứu. - Chương 3: Thực trạng huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long. - Chương 4: Một số giải pháp tăng cường hiệu quả huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long.
3 CHƢƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài NHTM là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ, tín dụng - Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Việc tạo lập, tổ chức và quản lý vốn của NHTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ vì lợi ích riêng của bản thân các NHTM mà còn vì sự phát triển chung của nền kinh tế. Xuất phát từ thực tiễn trên, trong thời gian qua vấn đề về vốn và huy động vốn tại các NHTM đã được rất nhiều các tác giả lựa chọn để làm đề tài nghiên cứu trong một số vấn đề khoa học, trong các công trình nghiên cứu sinh và một số bài bình luận trên các tạp chí khoa học: Luận án tiến sỹ về “Những giải pháp tạo vốn của Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam trong điều kiện chuyển sang kinh tế thị trường” của nghiên cứu sinh Tô Ngọc Hưng.
Luận án đã nghiên cứu khá toàn diện về vốn trong sự nghiệp phát triển nông thôn và các hình thức tạo vốn của NHTM trong nền kinh tế thị trường. Luận án cũng đánh giá về thực trạng hoạt động tạo vốn và đã đưa ra một số giải pháp nhằm hoàn thiện việc tạo vốn cho Ngân hàng Nông Nghiệp Việt Nam trong giai đoạn tác giả nghiên cứu. (Tô Ngọc Hưng, 1996) Luận án tiến sỹ về “Huy động vốn và sử dụng vốn của ngân hàng cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh Hưng Yên” của nghiên cứu sinh Nguyễn Huy Cường. Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tác động của huy động vốn và sử dụng vốn đầu tư của hệ thống ngân hàng đối với tăng trưởng kinh tế của các bộ phận cấu thành nền kinh tế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Bên cạnh đó, luận án cũng chỉ ra các vướng mắc trong huy động vốn và sử dụng vốn của hệ thống ngân hàng cũng như các biện pháp quản trị điều hành của ngân hàng để hệ thống ngân hàng nói chung và các ngân hàng tại Hưng Yên nói riêng trở thành một kênh huy động vốn hữu hiệu cho nền kinh tế. (Nguyễn Huy Cường, 2006) 4 Luận án tiến sỹ về “Đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh NHTM Việt Nam trong điều kiện hội nhập quốc tế” của nghiên cứu sinh Nguyễn Thanh Phong. Chỉ ra vấn đề cần giải quyết trong quá trình hội nhập quốc tế của hệ thống Ngân hàng Việt Nam là phải đa dạng hóa các sản phẩm kinh doanh, đặc biệt là các sản phẩm về vốn. Đi sâu vào phân tích các nhân tố ảnh hưởng và các yếu tố cần thiết cho đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh.
Từ đó cho thấy các yếu tố quan trọng hàng đầu cho đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh của NHTM Việt Nam là: môi trường pháp lý, quy mô vốn, công nghệ, nhân lực, quản trị rủi ro và quản trị điều hành. (Nguyễn Thanh Phong, 2011) Đề tài Luận văn thạc sỹ về “ Nâng cao hiệu quả huy động vốn từ khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Công Thương- Chi nhánh Hai Bà Trưng” của học viên Phạm Thanh Thanh; luận văn thạc sỹ “Giải pháp tăng cường huy động vốn tại Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long - Chi nhánh Hà Nội” của học viên Dương Huyền Trang; Luận văn thạc sỹ “ Nâng cao hiệu quả quản lý huy động vốn tại Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn tỉnh Vĩnh Phúc” của học viên Đặng Văn Du. Trong các công trình nêu trên, các tác giả đều đã nêu lên được thực trạng huy động vốn tại các ngân hàng trong các giai đoạn mà tác giả nghiên cứu. Đồng thời mỗi tác giả cũng đưa ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả huy động, quản lý vốn tại hệ thống NHTM nói chung và tại các ngân hàng các tác giả chọn nghiên cứu nói riêng.
(Phạm Thanh Thanh, 2010), (Dương Huyền Trang, 2013), (Đặng Văn Du, 2013) Luận văn thạc sỹ “Quản trị tài sản Nợ tại Chi nhánh Ngân hàng Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn Thăng Long-Thực trạng và giải pháp” của học viên Nguyễn Thị Ngọc Hoa. Với mục tiêu tăng cường quản trị tài sản nợ tại Agribank chi nhánh Thăng Long trong điều kiện hội nhập, luận văn đã hệ thống hóa cơ sở lý luận về tài sản nợ và quản trị tài sản nợ. Đồng thời phân tích và đánh giá thực trạng quản trị tài sản nợ, chủ yếu là tài sản vốn huy động, tại Agribank chi nhánh Thăng Long trong giai đoạn 2008 - 2010. Luận văn cũng đã nêu bật được một số thuận lợi và khó khăn của Agribank chi nhánh Thăng Long, cũng như những hạn chế của công tác quản trị tài sản nợ của ngân hàng này.
(Nguyễn Thị Ngọc Hoa, 2012) 5 Khá nhiều bài báo, tham luận hội thảo của các nhà nghiên cứu, chuyên gia đề cập đến các nội dung xoay quanh vấn đề huy động vốn và quản lý vốn của các NHTM như: “Hoạt động huy động vốn trên địa bàn TP.Hồ Chí Minh-Thực trạng và giải pháp” của Ths.Trần Trọng Huy; “Giải pháp hoàn thiện hoạt động quản trị rủi ro lãi suất tại các NHTM Việt Nam” của Ts.Lê Phan Diệu Thảo, Nguyễn Minh Sáng; “Quản lý lãi suất của NHTM trong môi trường cạnh tranh hiện nay”của Ts.Hà Thị Sáu; “Trao đổi về cơ chế áp dụng lãi suất trần trong huy động vốn của NHTM hiện nay” của Ths.Đỗ Thị Ngọc Anh. Tuy nhiên, các tác giả cũng chưa trực tiếp giải quyết các vấn đề lý luận và thực tiễn nhằm đề xuất hệ thống công cụ thích hợp để thúc đẩy công tác huy động vốn tại các NHTM. (Đỗ Thị Ngọc Anh, 2012), (Trần Trọng Huy, 2011), (Lê Phan Diệu Thảo, Nguyễn Minh Sáng, 2012), (Hà Thị Sáu, 2012) Trong mỗi giai đoạn khác nhau thì mỗi ngân hàng khác nhau lại có những chiến lược kinh doanh của riêng mình để phù hợp với tình hình phát triển kinh tế trên địa bàn. Sự biến động trên thị trường luôn là tác nhân làm cho tình hình kinh doanh cũng như tâm lý của các đối tượng tham gia các hoạt động kinh doanh trên thị trường thay đổi, đặc biệt là các đối tượng hoạt động kinh doanh trên thị trường tiền tệ.
Chính vì vậy, trên cơ sở kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước, căn cứ vào tình hình biến động của hoạt động kinh doanh ngân hàng trong thời gian gần đây, tác giả lựa chọn đề tài “ Huy động vốn tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Thăng Long” để làm rõ hơn sự tác động của các nhân tố trên thị trường tới hoạt động kinh doanh nói chung và công tác huy động vốn nói riêng tại ngân hàng này. Tổng quan về ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm về ngân hàng thƣơng mại Kinh doanh ngân hàng được biết đến từ thời xa xưa, với những nghiệp vụ sơ khai ban đầu là nhận bảo quản, gìn giữ các loại tài sản quý như vàng, bạc, tiền, giấy tờ có giá. Do nhu cầu ngày càng tăng, dần dần trong xã hội hình thành những tổ chức thực hiện các nghiệp vụ đa dạng hơn như nhận bảo quản tài sản quý, đổi tiền, 6 thanh toán, cho vay.
Đó cũng chính là mầm mống các tổ chức NHTM ngày nay. Cho đến nay, trên phương diện học thuật, vẫn còn tồn tại một số quan điểm khác nhau giữa các nhà nghiên cứu về khái niệm NHTM. Tuy nhiên, có thể thấy cách tiếp cận khá phổ biến của nhiều nhà nghiên cứu khi đưa ra khái niệm NHTM đều xuất phát từ những nghiệp vụ truyền thống của ngân hàng như nhận tiền gửi, cho vay và thanh toán.Myshkin, 1999) NHTM là một trung gian tài chính có chức năng dẫn vốn từ nơi có khả năng cung ứng vốn đến những nơi có nhu cầu về vốn, từ nơi thừa vốn đến nơi thiếu vốn nhằm tạo điều kiện cho đầu tư, phát triển kinh tế. (Nguyễn Duệ, 2001), (Trịnh Thị Hoa Mai, 2004) Tuy nhiên, do đặc thù về văn hóa, phong tục tập quán hay thông lệ của các quốc gia, do tính đa dạng của các loại hình ngân hàng, do tính phức tạp của các nghiệp vụ ngân hàng, các khái niệm về NHTM không hoàn toàn giống nhau ở các quốc gia trên thế giới.
Chẳng hạn: Theo luật pháp của nước Mỹ, bất kỳ một tổ chức nào cung cấp tài khoản tiền gửi cho khách hàng rút tiền theo yêu cầu và cho vay đối với các tổ chức kinh doanh hay cho vay thương mại sẽ được xem là một NHTM. Theo Luật Ngân hàng Đài Loan, thuật ngữ NHTM được hiểu là một ngân hàng mà các chức năng chính là nhận tiền gửi tài khoản séc và cấp tín dụng ngắn hạn. Theo Luật Ngân hàng Pháp năm 1941: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở hành nghề thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệm vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính.(Lê Thị Mận, 2010) Một cách tiếp cận khác của Peter S.Rose cho thấy: “ NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất – đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán- và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kỳ một tổ chức kinh doanh nào trong nền kinh tế”.Rose, 1999, trang 7) Ở Việt Nam, tại điều 4.3, Luật các tổ chức tín dụng Việt Nam số 47/2010/QH12 do Quốc hội khoá XII, kỳ họp thứ 7 thông qua ngày 16 tháng 6 năm 7 2010, định nghĩa: “NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận”. (Luật các TCTD số 47/2010/QH12, 2010, trang 2-3) Như vậy, có thể quan niệm một cách tổng quát về NHTM, đó là một trong những định chế tài chính, doanh nghiệp đặc biệt mà đặc trưng là cung cấp đa dạng các dịch vụ tài chính với nghiệp vụ cơ bản là nhận tiền gửi, cho vay, và cung cấp các dịch vụ thanh toán.