Chương 1: Những vấn đề lý luận về hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính và pháp luật về hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính Chương 2: Thực trạng pháp luật về hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính ở Việt Nam và thực tiễn thực hiện tại Tổng công ty chuyển phát nhanh bưu điện — Công ty cô phan. Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cung ứng va sử dụng dịch vụ bưu chính ở Việt Nam và nâng cao hiệu quả thực hiện tai Tổng công ty chuyên phát nhanh bưu điện — Công ty cổ phan. NHỮNG VAN DE LÝ LUẬN VE HỢP DONG CUNG UNG VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ BƯU CHÍNH VÀ PHÁP LUẬT VE HỢP DONG CUNG ỨNG VÀ SỬ DỤNG DỊCH VỤ BƯU CHÍNH 1. Những vấn đề lý luận về hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính 1.
Khái quát về dịch vụ bưu chính Bưu chính đã hình thành từ rất lâu trong lịch sử nhân loại và là thuật ngữ rất pho biến có khởi nguồn từ thời kỳ cé đại. Hệ thống bưu chính được biết đến đầu tiên là ở AI Cập vào khoảng năm 2000 trước Công nguyên (TCN) dành riêng cho các các vị vua cổ đại cập nhật tình hình chính trị nhưng đến năm 305 TCN, hệ thống bưu chính đã mở rộng phạm vi cung cấp chuyên phát “thư thường” cho người dan. Vào thời nhà Hán (202 TCN - 220 CN), Đề chế La Mã (27 TCN - 476 CN), Đề chế Byzantine (330 -1453 CN) và triều dai Mughal (1526 -1858 CN) đã có cơ sở hạ tang này dé truyền thông tin liên lạc của Chính phủ, mà còn dé thực hiện các thông điệp giữa các thương nhân dọc theo các tuyến đường thương mại như “Con đường tơ lụa” [40]. Trong cách mạng công nghiệp, việc phát minh ra động cơ hơi nước và sự ra đời của đường sắt đã sớm thay thế ngựa và xe ngựa.
Bưu điện Anh bắt đầu chuyên thư bằng đường sắt từ năm 1830 và đến năm 1864, Bưu cục trên tàu đầu tiên mở cửa cung cấp dịch vụ tại Hoa Kỳ. Trong sự phát triển của lịch sử, phương tiện sử dụng vận chuyển hang hóa ngày càng phát triển, bưu chính cũng đã trở thành cầu nối quan trọng để kết nối người dân với các dịch vụ thiết yếu. Năm 1874, Liên minh Bưu chính Thế giới (Universal Post Union) - viết tắt là UPU (hiện nay có 192 thành viên, bao gồm Việt Nam) thành lập, bắt đầu hình thành khái niệm bưu chính trên thé giới. Bưu chính góp vai trò kết nối xã hội và văn hóa của các quốc gia, thúc đây sự đoàn kết và hòa nhập, đồng thời, cung cấp cơ sở hạ tầng vô giá cho các nền kinh tế đang phát triển phục vụ cộng đồng.
Ở Việt Nam, việc vận chuyền thư từ, hàng hóa được xuất hiện từ thời kỳ vua Hùng dựng nước và ngày càng đa dạng phương thức qua các triều đại. Tuy nhiên, đến năm 1802, bưu chính Việt Nam lần đầu tiên được thành lập tại Bộ Lại nhà Nguyễn là Thống Chánh sứ ty có hàm Tam phẩm với công việc chủ yếu là tổ chức phục vụ dé vận chuyên thư từ với mạng lưới trên toàn quốc và được hoàn thiện trong thời kỳ Pháp thuộc [24]. Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và Mỹ, bưu chính đảm nhiệm công tác truyền nhận thông tin phục vụ kháng chiến. Cho đến hiện nay, sau hơn 30 năm đổi mới, bưu chính là ngành kinh tế thuộc kết cầu hạ tầng của nền kinh tế và là công cụ, phương tiện thông tin liên lạc của Nhà nước, phương tiện thông tin liên lạc của quốc gia và trở thành ngành dịch vụ phổ biến, có vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của xã hội.
Nhiệm vụ chủ yếu của ngành Bưu chính bao gồm các hoạt động sau day: (i) Thực hiện việc nhận, phân loại, đóng gói và chuyển thư, bưu thiếp, báo, tạp chí, ấn phẩm quảng cáo, bưu phẩm, bưu kiện, hàng hóa hoặc tải liệu theo các tuyến và khu vực; (ii) Nhận, phân loại, vận chuyên và phân phối (trong nước hoặc quốc tế) thư, bưu phẩm, bưu kiện bằng dịch vụ bưu chính qua mạng lưới bưu điện được quy định băng các giao ước dịch vụ thống nhất. Về khái niệm dịch vụ, theo C.Mác [46,tr 576], dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa. Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển mạnh, đòi hỏi sự lưu thông thông suốt, trôi chảy, liên tục để thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ ngày càng phát triển. Bản chất của dịch vụ là việc đáp ứng nhu cầu của con người, được thực hiện có tính chuyên môn hóa, có tô chức, gan liền với thị trường, chiu sự chi phối của quy luật thị trường và luôn có tính chất đền bù.
Như vậy, có thé hiểu, dich vụ bưu chính là một tập hợp các hoạt động cung ứng dịch vụ chuyền phát tai liệu, hàng hóa, hỗ trợ kết nối cộng đồng và thé giới. Ở Việt Nam, khái niệm dịch vụ bưu chính được quy định lần đầu tiên trong Nghị định số 109/1997/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 12/11/1997 về Bưu Chính Viễn Thông và được xác định là “°° dịch vụ nhận gửi, chuyên, phát thư, báo chí, an pham, tiền, vật pham, hàng hoá va các sản phâm vat chất khác thông qua mạng lưới bưu chính công cộng do doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bưu chính cung cấp” [4, Điều 10]. Định nghĩa trên liệt kê các dịch vụ bưu điện cung cấp, chưa chuyên biệt hóa dịch vụ bưu chính chuyền phát (bao gồm cả dịch vụ chuyền tiền). Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông năm 2002 ra đời đã điều chỉnh định nghĩa trên nhằm phù hợp với bản chất của nên kinh tế thị trường, dịch vụ bưu chính “là dịch vụ nhận gửi, chuyên phát bưu phẩm, bưu kiện thông qua mạng bưu chính công cộng” [22, Điều 4].
Phạm vi dịch vụ bưu chính tại Việt Nam vẫn bị bó hẹp so với nhiều nước trên thế giới, ảnh hưởng đến quyên lợi của Việt Nam trong quá trình hội nhập, thanh toán quốc tế trong cung ứng dịch vụ, dẫn đến sự rắc rồi trong thực tiễn thực hiện và áp dụng văn bản pháp luật của các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ. Khái niệm dịch vụ bưu chính đã có sự hoàn thiện cơ bản trong quy định của Luật Bưu chính năm 2010 và được coi là dịch vụ chấp nhận, vận chuyền và phát bưu gửi bằng các phương thức từ dia điểm của người gửi đến địa điểm của người nhận qua mạng bưu chính, trừ phương thức điện tử [13, Điều 3], tạo điều kiện cho các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp có vốn nhà nước khác cùng được phép cung ứng dịch vụ bưu chính chuyển phát (trừ dịch vụ bưu chính công ích). Tuy nhiên, theo Công ước Bưu chính Thế giới năm 2019, thì dịch vụ bưu chính bao gồm dịch vụ chuyên phát tài liệu, hàng hóa bằng phương tiện vật lý hoặc truyền đưa thông điệp hoặc thông tin bang phương tiện điện tử (bưu kiện ECOMPRO) [1, Điều 37]. Như vậy, là có sự khác biệt giữa nội hàm dịch vụ bưu chính của Việt Nam và thế giới, sự khác biệt này là do quan niệm nhận thức về bưu gửi tài liệu vật chất và bưu gửi điện tử, cũng như việc áp dụng công nghệ thông tin trong hoạt động bưu chính.
Các dịch vụ bưu chính cơ bản hiện nay mà doanh nghiệp bưu chính cung cấp có hệ thống trong nước và nước ngoài tuân thủ các quy định của pháp luật quốc gia va được Tổ chức liên minh bưu chính thé giới UPU chấp nhận, bao gồm dịch vụ chuyên phát bưu gửi có chứa tài liệu (thư, bưu thiếp, ấn phẩm, sách, báo.) , hàng hóa (bưu kiện, bưu phẩm, gói nhỏ.), Những năm qua, người dân có thể lựa chọn đơn vị cung ứng dịch vụ bưu chính, dich vụ chuyển phát khác nhau với mức cước, phương thức chuyên phát đa dạng, tạo nên sự cạnh tranh lành mạnh và phát triển của ngành chuyền phát bưu chính trong nước và quốc tế. Khái niệm, đặc điểm hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính 1. Khái niệm hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính Trong các giao dịch dân sự, với nghĩa chung nhất, hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa hai hoặc nhiều bên tạo lập hậu quả pháp lý, là sự thỏa thuận của các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc cham dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Hợp đồng dịch vụ có thể hiểu là sự thỏa thuận giữa các bên: bên cung ứng dịch vụ thực hiện công việc cho bên thuê dịch vụ, còn bên thuê dịch vụ phải trả tiền công khi sử dụng dịch vụ cho bên cung ứng dịch vụ.
Tương tự như trong quan hệ dân sự, hợp đồng dịch vụ trong quan hệ thương mại cũng là hình thức pháp lý gan liền với hoạt động cung ứng dịch vụ. Hoạt động cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận được khoản thanh toán; bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán chi phí cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận [27] Như vậy, dù trong quan hệ dân sự hay quan hệ thương mại, hợp đồng dịch vụ có đối tượng là một công việc cụ thể, có thé thực hiện được, không bị pháp luật cấm và không trái với đạo đức xã hội. Theo cách hiểu này, hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính là sự thỏa thuận của các bên, theo đó, một bên (bên cung cấp dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện cung cấp dịch vụ cho một bên (có nhu cầu sử dụng dịch vụ) và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (được gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung cấp dịch vụ theo thỏa thuận. Từ những đặc thù riêng của lĩnh vực bưu chính, Điều 8 Luật Bưu chính 2010 đã đưa ra quy định định nghĩa: Hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính là thoả thuận giữa doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính và người gửi, theo đó doanh nghiệp chấp nhận, vận chuyền và phát bưu gửi đến địa điểm theo yêu cầu của người gửi và người gửi phải thanh toán giá cước dịch vụ bưu chính.
Hợp đồng cung ứng và sử dụng dịch vụ bưu chính được giao kết bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi.