Chương 1: Tổng quan về hợp kim nhớ hình. Chương 2: Các kỹ thuật thực nghiệm; Chương 3: Kết quả và biện luận. Ý nghĩa khoa học của luận văn: Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ chế và cải thiện khả năng ứng dụng của các hợp kim nhớ hình nền Ni-Ti. 3 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ HỢP KIM NHỚ HÌNH 1.
Hiệu ứng nhớ hình dạng của hợp kim Hợp kim nhớ hình (Shape Memory Alloy - SMA) là vật liệu có khả năng khôi phục lại hình dạng ban đầu khi chịu tác động của nhiệt độ hoặc từ trường. Hiện tượng biến đổi này được gọi là hiệu ứng nhớ hình (Shape Memory Effect - SME). Nguồn gốc của hiệu ứng nhớ hình này là do có sự chuyển pha cấu trúc tinh thể của vật liệu dưới tác động của nhiệt độ hay từ trường. Hợp kim nhớ hình có thể tồn tại trong hai pha với cấu trúc tinh thể khác nhau, pha martensite hoặc pha austenite.
Pha austenite ổn định ở nhiệt độ cao và có độ cứng lớn hơn. Còn cấu trúc pha martensite lại ổn định ở nhiệt độ thấp và mềm hơn.1 mô tả quá trình chuyển pha cấu trúc của vật liệu khi thay đổi nhiệt độ [2] Hình 1. Hiệu ứng nhớ hình dạng trong các hợp kim [2].1 chỉ ra, khi làm lạnh, trạng thái pha bị thay đổi từ pha austenite sang pha martensite. Tại trạng thái này, ta có thể thay đổi hình dạng của vật liệu theo hình dạng nào đó trong khả năng chịu đựng của vật liệu.
Khi tăng nhiệt độ, vật liệu trở về hình dạng ban đầu với pha austenite. 4 Nếu một hợp kim nhớ hình bị làm biến dạng ở nhiệt độ tồn tại cấu trúc martensite thì khi bị đốt nóng đến nhiệt độ bắt đầu chuyển sang pha cấu trúc austenite (As), nó dần chuyển về hình dạng ban đầu và trở về nguyên dạng khi pha martensite biến đổi hoàn toàn sang pha austenie (Af). Khoảng nhiệt độ từ As đến Af được gọi là khoảng nhiệt độ biến đổi hình dạng của vật liệu (T). Khi giảm nhiệt độ, cấu trúc của hợp kim nhớ hình lại biến đổi từ pha austenite sang pha martensite trong khoảng nhiệt độ từ Ms (nhiệt độ bắt đầu) tới Mf (nhiệt độ kết thúc).
Quá trình này có thể được mô tả trên hình 1. Sự biến đổi pha trong hợp kim nhớ hình dạng NiTi [5], [20]. Sự biến đổi pha cấu trúc martensite-austenite trong một số hợp kim nhớ hình có thể xảy ra dưới tác dụng của từ trường ngoài. Nếu một hợp kim nhớ hình bị biến dạng ở nhiệt độ dưới nhiệt độ tới hạn và phục hồi về hình dạng ban đầu khi nung nóng trên nhiệt độ tới hạn được gọi là hiệu ứng nhớ hình một chiều.
Còn nếu một hợp kim thể hiện hiệu ứng nhớ hình trong cả quá trình nung nóng và làm mát gọi là hiệu ứng nhớ hình hai chiều. Độ trễ nhiệt là thước đo sự khác nhau về nhiệt độ chuyển pha giữa nung nóng và làm lạnh (tức là ΔT = Af - Ms), thường được xác định giữa nhiệt độ mà vật liệu ở đó 50% chuyển thành austenite khi gia nhiệt và 50% chuyển thành mactensite khi làm mát. Tính chất này rất quan trọng và cần được xem xét cẩn thận trong quá trình lựa chọn vật liệu SMA cho các ứng dụng kỹ thuật. Ví dụ, vật liệu cần có độ trễ nhiệt nhỏ cho các ứng dụng khởi động 5 nhanh (như MEMS và robot), có độ trễ nhiệt lớn cho các ứng dụng cần giữ lại hình dạng xác định trong một dải nhiệt độ lớn.
Ngoài ra, nhiệt độ chuyển pha được đề cập đến để xác định phạm vi hoạt động của ứng dụng. Các nhiệt độ chuyển pha và đường cong trễ nhiệt bị ảnh hưởng bởi thành phần của vật liệu nhớ hình, quá trình xử lý nhiệt và môi trường làm việc của nó. Các nhiệt độ chuyển pha này có thể được đo trực tiếp bằng các kỹ thuật khác nhau như đo nhiệt lượng quét vi sai (DSC), đo điện trở suất theo nhiệt độ. Một số tính chất cơ học của các hợp kim nhớ hình cũng khác nhau giữa hai pha này như mô đun Young, điện trở suất, độ dẫn nhiệt và hệ số giãn nở nhiệt.
Cấu trúc austenite tương đối cứng và có mô đun Young cao hơn nhiều, trong khi cấu trúc martensite mềm hơn và dễ uốn hơn, tức là có thể dễ dàng bị biến dạng khi tác dụng ngoại lực. Khi một ứng suất ngoài được đặt dưới cường độ chảy dão của pha martensite (biến dạng xấp xỉ 8,5% đối với hợp kim NiTi và 4–5% đối với hợp kim chứa Cu), hợp kim nhớ hình biến dạng đàn hồi (biến dạng có thể phục hồi). Một biến dạng không đàn hồi lớn (biến dạng dẻo vĩnh viễn) sẽ dẫn đến vượt quá điểm hồi phục này. Hầu hết các ứng dụng sẽ hạn chế mức biến dạng, đến 4% hoặc ít hơn đối với hợp kim NiTi [12].
Cấu trúc tinh thể Hợp kim nhớ hình tồn tại ở 2 trạng thái pha rắn: pha ban đầu được gọi là austenite và pha biến hình được gọi là martensite. Austenite là trạng thái ổn định ở nhiệt độ cao và có cấu trúc tinh thể lập phương tâm khối (thường là B2 đối với hợp kim Ni-Ti với đối xứng tâm khối cao tương ứng với mô đun đàn hồi cao. Martensite là trạng thái ổn định ở nhiệt độ thấp và đối với hệ NiTi có cấu trúc đơn tà (ký hiệu là B19') của mạng tinh thể tương ứng với môđun đàn hồi thấp hơn. Vì cấu trúc tinh thể của martensite có tính đối xứng thấp hơn, có thể cùng tồn tại một số định hướng được gọi là các biến thể; các biến thể martensite là 24 và ở trạng thái không tải đều có thể tồn Hình 1.3 cho thấy hai cấu trúc khác nhau: cấu trúc pha ban đầu B2 (a) và cấu trúc pha biến hình B19'(c).
Xem xét một ô tứ giác có tâm là mặt bên trong cấu trúc B2 (được xác định bởi các đường đứt nét trong Hình 1.3a) và 6 áp dụng một phép trượt, nó tạo thành cấu trúc B19 trực thoi (Hình 1. Nếu thêm sự cắt ngang thì nó biến dạng thành cấu trúc đơn tà B19' (Hình 1. Đối với hệ NiTi, cấu trúc không qua bước trung gian và chuyển đổi trực tiếp từ B2 sang B19' [3]. Cấu trúc của pha ban đầu B2 (a), pha orthohombic B19, và pha monoclinic martensite B19'.
Hình ảnh về sự chuyển pha từ B2 (pha P) sang R của hợp kim Ni-Ti [21] 7 Trong một số điều kiện hoặc xử lý nhiệt, cũng có thể xuất hiện pha thứ ba gọi là phase R, được đặc trưng bởi cấu trúc tinh thể hình thoi kiểu R. Pha R là thành phần phụ thuộc và xuất hiện khi làm lạnh và trước khi biến đổi marsentive. Pha R được nhìn thấy trong các điều kiện nhất định - khi được sắp xếp lại, thường thông qua: (i) việc làm lạnh nhiệt độ và ủ nhiệt trong khoảng 400°C đến 500°C; (ii) khi xử lý dung dịch tạo ra kết tủa và hợp kim với 50,5% niken được ủ ở nhiệt độ từ 400°C đến 500°C; và / hoặc (iii) khi nguyên thứ ba được đưa vào tố hợp để ngăn chặn sự biến đổi martensite.4 cho thấy hình ảnh về sự chuyển pha từ B2 (pha P) sang R của hợp kim NiTi. Thông tin về các pha cũng được trình bày như bảng 1.
Thông tin các pha đƣợc quan sát trong quá trình biến dạng Pha Cấu trúc Hằng số mạng Hợp chất tìm thấy a=0.2898 nm Hợp kim NiTi được B19' Monoclinic b=0.4108 nm làm nguội nhanh từ (Martensite) (đơn tà) c= 0.4646 nm pha gốc B2 =97.780 Trong Ti-47Ni-3Fe; Trigonal a=0.738 nm Ni-giàu NiTi; NiTi R (tam tà) c=0.532 nm nếu được làm lạnh và ủ nhiệt B19 a=0.2881 nm Orthohombic 50Ti-(50-x)Ni-(x)Cu (Martensite) c=0.4279 nm B2 Cubic (lập a=0. trình bày giản đồ pha của hệ Ni-Ti. Có thể nhận rằng, nhiệt độ thấp nhất để tồn tại pha NiTi cân bằng về các nguyên tử khi tốc độ làm nguội đủ chậm ở khoảng nhiệt độ 630oC. Nhiệt độ nóng chảy của vật liệu ở pha NiTi là khoảng 1310oC.
Khi làm nguội xuống dưới nhiệt độ 630oC, thành phần pha của vật liệu NiTi thường bao gồm các pha: NiTi, NiTi2, Ni3Ti, Ni3Ti, Ni4Ti3 (trong đó Ni4Ti3 có thể coi là sự kết quả của hai pha NiTi2, Ni3Ti) [17].5: Giản đồ pha của hệ Ni-Ti. Cơ chế biến đổi pha trong hợp kim nhớ hình Về mặt tinh thể học, sự biến đổi từ austenite thành martensite thường thông qua hai phần: Sức căng Bain (Brain strain) và lực cắt bất biến của mạng tinh thể (lattice-invariant shear). Sức căng Bain bao gồm tất cả các chuyển động nguyên tử cần thiết để tạo ra cấu trúc mới. Để minh họa quá trình này một cách dễ hiểu, chúng ta có thể xem xét theo mô hình 2 chiều như trong Hình 1.
Giản đồ 2 chiều của sự dịch chuyển theo sức căng Lưu ý rằng khi mặt phân cắt giữa hai giai đoạn phát triển, mỗi nguyên tử chỉ di chuyển một đoạn rất nhỏ. Cấu trúc martensite mới là kết quả của tất cả những các chuyển động phối hợp nhỏ mà không có bất kỳ sự khuếch tán nguyên tử nào. 9 Phần thứ hai của phép biến đổi martensite, lực tác động làm biết đổi mạng tinh thể theo kiểu "cắt": cấu trúc martensite được tạo ra bởi bước trước đó là một hình dạng khác với austenite lân cận và do đó phải được điều chỉnh bằng cách nào đó đến cấu trúc lân cận chưa được chuyển đổi. Có hai cơ chế có thể xảy ra: trượt và kết đôi.7 biểu diễn hai cơ chế trượt và kết cặp [8].
Trong cả hai trường hợp, mỗi ô cơ sở có cấu trúc martensite mới, nhưng hình dạng tổng thể là của cấu trúc ban đầu austenit. Trượt là một quá trình thường trực, trong khi kết cặp là một quá trình có thể đảo ngược. Do đó, để hiệu ứng nhớ hình có thể xảy ra, thì sự kết cặp nhất định phải chiếm ưu thế trong quá trình biến đổi. Hai cơ chế trƣợt (a) và kết cặp (b) Mô hình hai chiều có thể chỉ ra làm thế nào ở trạng thái không có ngoại lực tác động vào vật liệu các biến thể tương tự được kết cặp trong cấu hình được gọi là kết hợp, trong đó biên giữa các cặp biến thể là mặt phẳng gương.
Các biên kết cặp có năng lượng rất thấp và khá linh động. Do đó, nếu một ứng suất được tác động lên kết cấu, ranh giới cặp sẽ dễ dàng di chuyển, tạo ra một hình dạng đáp ứng tốt với ứng suất tác động. Điều này giúp chúng ta dễ dàng uốn, bẻ cong vật liệu theo hình dạng mong muốn. Sự hình thành của nhiều biến thể cặp thành một biến thể duy nhất được gọi là song tinh (detwinning) martensite biến dạng.
Quá trình song tinh martensite biến dạng được biểu diễn trên hình 1.