Chương 1: Cơ sở khoa học của công tác quản lý Nhà nước về đất đai ở cấp huyện Chương 2: Thực trạng công tác quản lý nhà nước về dat đai ở thành phó Bắc Ninh Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản ly nhà nước về dat đai ở thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh CHUONG 1: CƠ SO KHOA HOC CUA QUAN LY DAT DAI 1. Một số khái niệm 1. Đất và đất đai 11. Dat Dat là lớp ngoài cùng của thạch quyên bị biến đổi tự nhiên dưới tác động tổng hợp của không khí, nước và sinh vật.
Dat trong thuật ngữ chung: “là các vật chat nam trên bề mặt Trái Đất, có khả năng hỗ trợ sự sinh trưởng của thực vật và là môi trường sống của các dạng sống sinh vật từ các vi sinh vật tới các loài động vật nhỏ. Đất là một phần của vỏ trái đất, nó là lớp phủ của lục địa mà bên dưới nó là đá và khoảng sinh ra nó, bên trên là thảm thực bì và khí quyển”. Theo nguồn gốc phát sinh, tác giả Dokuchaev định nghĩa: “ Dat là một vật thé tự nhiên được hình thành do sự tác động tong hợp của năm yếu tổ là: Khí hậu, đá mẹ, địa hình, sinh vật và thời gian.” “Dat bao gồm các tài nguyên có nguồn gốc tự nhiên, ví dụ như vị trí địa lý khu vực dat đai, các tài nguyên khoáng sản trong lòng dat, và còn là thành phan của phô điện từ.” Các thành phần chính của đất bao gồm chất khoáng, nước, không khí, mùn và các loại sinh vật từ vi sinh cho đến côn trùng. Dat có cau trúc hình thái rat đặc trưng, có sự phân tầng từ trên xuống dưới.
“Thành phần khóang của đất bao gồm ba loại: khóang vô cơ, khóang hữu cơ và chất hữu cơ. Các nguyên tố hóa học trong đất tồn tại ở dang hợp chất vô cơ, hữu cơ có hàm lượng biến động và phụ thuộc vào quá trình hình thành đất. Thành phần hóa học của đất phụ thuộc nhiều vào sự phát triển của đất, quá trình hóa lý, quá trình sinh học trong đất và tác động của con người nữa.” “Sự hình thành dat là quá trình phức tạp và kéo dài, có thé chia ra làm ba quá trình đó là: Quá trình phong hóa; quá trình tích lũy và biến đồi chất hữu cơ trong dat; quá trình di chuyển khoảng chất và vật liệu hữu cơ trong đất. Bên cạnh đó địa hình bề mặt trái đất còn chịu sự tác động của nhiều hiện tượng tự nhiên khác ví dụ như động đất, núi lửa, sự lún bề mặt, tác động của nước mưa, dòng chảy, gió, sóng biển, băng hà và các hoạt động của con người.
Đất là một hệ mở hệ này thường xuyên trao đôi chất và năng lượng với khí quyền, thủy quyên và sinh quyên. Trên quan điểm sinh thái học và môi trường, có thé xem đất là một cơ thé sống vì trong nó có nhiều sinh vật khác như: vi khuan nam, tảo, thực vật, động vật. Do đó, đất cũng tuân thủ các quy luật sống: phát sinh, phát trién, thái hóa, già cỗi.” Đất có hai nghĩa, đó là: Đất dai là nơi ở, nơi xây dựng cơ sở hạ tâng của con người và thé nhưỡng là mặt bang dé sản xuất nông lâm nghiệp. Dat là một dạng tài nguyên của con người cần được khai thác và bảo vệ để đạt được những phát triển kinh tế tối ưu.
Dat dai Đất đai co rất nhiều định nghĩa. Dat dai được định nghĩa là một nhân tổ sinh thái ( FAO, 1976). Như vậy, đất đai mang đầy đủ các thuộc tính sinh học cùng với đó là cá thuộc tính tự nhiên của bề mặt trái đất, điều đó. Theo địa lý, đất đai được coi là cảnh quan, sản phẩm của quá trình địa chất, địa mạo.
Hầu hết mọi người hiểu theo cách đơn giản nó là khoảng không gian cho các hoạt động của con người thể hiện dưới nhiều dạng SDĐ khác nhau. Theo LĐĐ 2013: “ Thửa đất là phần diện tích đất được giới hạn bởi ranh giới xác định trên thực địa hoặc được mô tả trên hồ sơ.” Theo quy định pháp luật tại Khoản 2 Điều 4 Thông tư 14/2012/TT-BTNMT về Quy định kỹ thuật điều tra thoái hóa đất do Bộ trưởng Bộ TNMT ban hành, đất đai được hiểu như sau: “ Đất dai là một vùng ranh giới, vị trí, điện tích cụ thể và có các thuộc tính tương đối ồn định hoặc thay đối nhưng có tính chu kỳ, có thé dự đoán được, có ảnh hưởng tới việc SDD trong hiện tại và tương lai cua các yếu tổ tự nhiên, Kinh té- xã hội như: thổ nhưỡng, khí hậu, địa hình, địa mạo, địa chat, thủy văn, thực vật, động vật cư tru và hoạt động sản xuất của con người. ” Trong kinh tế học cổ điển, nó được coi là một trong các yếu tố sản xuất, bên cạnh các yêu tố khác như tư bản và sức lao động. Dat đai là tài sản quốc gia, là tư liệu sản xuất chủ yếu và không thay thé được.
Dat đai là đối tượng lao động đồng thời cũng là sản phẩm lao động.Mác viết: “ Dat dai là tài sản mãi mãi với loài người, là điều kiện để sinh tôn, là điều kiện không thể thiếu được để sản xuất, là tư liệu sản xuất cơ bản trong nông, lâm nghiệp ”. Nêu không có đất đai thì con người sẽ không sản xuất ra của cải vật chất nào dé duy trì và phát triển đến tận bây giờ, sẽ không có ngành sản xuất nào ra đời. Đất đai không tự nhiên sinh ra và không tự nhiên mất đi, nó chỉ chuyên từ mục đích sử dụng này sang mục đích sử dụng khác nhằm phục vụ nhu cầu thiết yếu của con người. Đất đai có tầm quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của xã hội loài người.
Lịch sử nhân loại luôn gắn liền với đất đai. Từ xưa đến nay, các cuộc chiến tranh trên thé thời giới đều liên quan đến dat dai, bởi vì dat đai là yếu từ cấu thành nên một quốc gia, là điều kiện dé tôn tại, phát triển của con người và các sinh vật khác trên trái đắt. Đất đai có ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của con người và sinh vật sống trên trái đất. Dat đai là thành phan quan trọng nhất đối với môi trường sống và mọi ngành kinh tế, có đất đai thì mới có các hoạt động song diễn ra.
Đất dai là địa bàn phân bó dân cư, là địa bản sản xuất của con người, là nơi xây dựng các cơ sở kinh tế, văn xã hội và an ninh quốc phòng. Đã từ lâu, đất đai đã trở thành nguồn nội lực quan trong, đóng góp nguồn vốn to lớn cho mỗi quốc gia. Đất đai có vai trò hết sức quan trọng, nó có những đặc điểm, đặc trưng riêng không giống các vật thê khác. Đất đai có tính cố định vị trí, không di chuyên được, chịu sự chi phối của yêu tổ môi trường xung quanh.
Dat đai còn có hạn, không thê sản sinh thêm, nhưng lại là một tài sản không hao mòn theo thời gian. Giá trị của đất đai tại các vị trí khác nhau thì không giống nhau, ví dụ như đất đai ở đất đô thị sẽ có giá trị cao hơn ở nông thôn và vùng sâu vùng xa; tính đa dạng của đất đai cũng phụ thuộc vào mục đích SDD và phù hợp với từng vùng dia lý. Trong nền kinh tế thị trường, các quan hệ đất đai phong phú hơn rất nhiều, quyền SDD được mua bán, trao đồi, chuyển nhượng và hình thành nên một thị trường đất đai. Lúc này đất đai được coi là một dạng hàng hóa đặc biệt.
Thị trường đất đai có liên quan đến nhiễu thị trường khác và những biến động của thị trường này có ảnh hưởng đến nền kinh tế xã hội của quốc gia. Quản lý nhà nước Hiện nay, có nhiều cách giải thích thuật ngữ quản lý, có quan niệm cho rằng quan lý là cai trị, cũng có khái niệm quản ly là điều hành, điều khiến, chỉ huy. Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người chấp nhận do điều khiển học đưa ra như sau: Quản lý là sự tac động định hướng bat kỳ lên một hệ thông nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy định nhất định. Quan niệm này không phù hợp với hệ thống máy móc thiết bi, cơ thé sống, mà còn phù hợp với một tập thé người, một tô chức hay một cơ quan nhà nước (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007) Quản lý Nhà nước là các công việc quản lý của Nhà nước, được thực hiện bởi tất cả các cơ quan Nhà nước, cũng có khi do dân trực tiếp thực hiện bằng hình thức bỏ phiếu hoặc do các tô chức xã hội, các cơ quan xã hội thực hiện nếu được Nhà nước giao quyền thực hiện chức năng nha nước.
Quản lý Nhà nước thực chat là sự quản lý có tính chất Nhà nước, do Nhà nước thực hiện thông qua bộ máy Nhà nước trên cơ SỞ quyền lực Nhà nước nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Chính phủ là hệ thông cơ quan được thành lập dé chuyên thực hiện hoạt động quản lý Nhà nước. Quản lý Nhà nước chính là dạng quản lý xã hội mang tính quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước dé điều hành các quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người dé duy trì, phát triển các mối quan hệ xã hội, trật tự pháp luật nhăm thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007). Quản lý nhà nước về đất đai. QLDD (Land Administration) là một khái niệm đa nghĩa.
Theo nghĩa rộng, QLĐĐ bao hàm cả việc bảo vệ lẫn việc kiểm soát SDĐ đai sao cho đất đai phục vụ con người tốt nhất trong hiện tại và tương lai. Theo định nghĩa này, QLĐĐ bao gồm nhiều việc như bảo vệ lãnh thô chủ quyền quốc gia, chống lại mọi sự xâm phạm, kiểm kê, đo vẽ, lập bản đồ địa chính, phan bó đất dai cho các ngành, nghề lĩnh vực khác nhau, sự dụng đất đai hiệu quả, bền vững, tô chức không gian một cách hợp lý, phù hợp quy hoạch kế hoạch SDĐ, phù hợp với phong tục, tập quán từng vùng, miễn, khuyến khích đầu tư vào đất và bảo vệ đất. Nói cách khác, theo nghĩa rộng QLĐĐ là quản lý lãnh thổ quốc gia. QLDD theo nghĩa hẹp là công việc của ngành QLDD trong phân hệ quản lý nhà nước (QLĐĐ).