Chương 1: Trình bày kiến thức cơ sở cho luận án nghiên cứu bao gồm: Khái niệm về tập mờ, tập mờ phức, hệ suy diễn mờ phức, mô hình học chuyển giao, học chuyển giao mờ. Bài toán nghiên cứu, dữ liệu và môi trường thực nghiệm cũng được giới thiệu tại chương này. • Chương 2: Trình bày chi tiết quá trình xây dựng mô hình học chuyển giao trên hệ suy diễn mờ phức (gồm 4 giai đoạn) và các kết quả thực nghiệm trên các bộ dữ liệu UCI và bộ dữ liệu thực cùng với những phân tích đánh giá mô hình đã đề xuất. • Chương 3: Trình bày đề xuất cấu trúc CFRG ứng dụng cho suy diễn mờ phức và thích nghi luật trong mô hình học chuyển giao đã đề xuất ở chương 2, các kết quả thực nghiệm cùng với những phân tích đánh giá hiệu suất.
• Kết luận và hướng phát triển: Trình bày các kết quả thực hiện được của luận án, những điểm hạn chế và các hướng phát triển. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ THUYẾT Trong chương đầu tiên này, luận án trình bày lý thuyết tổng quan về hệ suy diễn, hệ suy diễn mờ và hệ suy diễn mờ phức - đối tượng nghiên cứu của luận án. Tiếp đó, luận án trình bày kỹ thuật học chuyển giao sẽ được sử dụng trong quá trình nghiên cứu giải quyết hạn chế của hệ suy diễn mờ phức. Đồng thời, tại chương này cũng giới thiệu khái quát về các bộ dữ liệu, môi trường, kịch bản thực nghiệm và thước đo đánh giá trong thực nghiệm.
Suy diễn và hệ suy diễn mờ phức Suy diễn được coi là một trong những công cụ, kỹ thuật quan trọng của khoa học cũng như cuộc sống. Suy diễn là quá trình rút ra thông tin mới, kết luận từ thông tin đã biết hoặc các nguyên tắc logic. Qua suy diễn, ta có thể kết nối các sự kiện, quy tắc và thông tin để tạo ra một cái nhìn toàn diện và chi tiết hơn về sự vật và hiện tượng. Suy diễn cũng là cơ sở cho việc tạo ra các lập luận logic và hợp lý.
Đặc biệt trong trí tuệ nhân tạo và học máy, suy diễn là trọng tâm. Máy tính và hệ thống thông minh được lập trình để suy luận từ dữ liệu nhằm mục đích thực hiện các dự báo và phân tích xu hướng, hiểu và tự động hóa quyết định, hỗ trợ ra quyết định v. Trong ngữ cảnh của trí tuệ nhân tạo và logic, suy diễn là quá trình sử dụng các quy tắc logic, kiến thức, hoặc thông tin đầu vào để tạo ra kết luận mới. Suy diễn giúp chúng ta đi từ thông tin có sẵn đến thông tin mới mà có ý nghĩa hoặc hữu ích.
Suy diễn có nhiều dạng khác nhau, bao gồm suy diễn logic (dựa trên quy tắc logic) [30], [31]; suy diễn thống kê (đưa ra các kết luận dựa trên dữ liệu thống kê và xác suất) [32]; suy diễn trong học máy (sử dụng mô hình máy tính để dự đoán kết quả) [33]; và suy diễn trong xử lý ngôn ngữ tự nhiên (đánh giá và phân tích văn bản ngôn 9 ngữ tự nhiên để rút ra thông tin) [34]. Hệ suy diễn đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống thông minh và lĩnh vực học máy và trí tuệ nhân tạo (AI) bởi khả năng xử lý thông tin và thực hiện quyết định dựa trên luật suy diễn. Hệ suy diễn được sử dụng rộng rãi trong hệ thống gợi ý để đề xuất sản phẩm, dịch vụ hoặc nội dung dựa trên lịch sử và hành vi của người dùng [35], [36]. Hệ suy diễn có khả năng xử lý thông tin mờ và không rõ ràng, giúp cải thiện trải nghiệm người dùng và tăng khả năng tương tác.
Không chỉ vậy, hệ suy diễn là một thành phần quan trọng trong các hệ thống hỗ trợ ra quyết định, giúp người ra quyết định xử lý thông tin phức tạp và đưa ra quyết định dựa trên các quy tắc được xác định trước [5], [37], [38]. Trong lĩnh vực quản lý tri thức, hệ suy diễn giúp quản lý tri thức trong các tổ chức và hệ thống thông tin. Nó có thể được sử dụng để tổng hợp, tổ chức và truy cập tri thức từ nhiều nguồn khác nhau [39]. Hệ suy diễn có thể được sử dụng để xây dựng mô hình AI dựa trên quy tắc và luật suy diễn.
Điều này có ứng dụng trong việc phát triển hệ thống học máy dựa trên luật (Rule-Based Machine Learning) và hệ thống dựa trên tri thức (Knowledge-Based Systems). Hệ suy diễn cũng có khả năng phân loại đối tượng và dự đoán sự kiện dựa trên dữ liệu đầu vào [26], [40], [41]. Điều này có ứng dụng trong nhận dạng văn bản, hình ảnh và âm thanh, cũng như trong dự đoán xu hướng và biến đổi trong dữ liệu. Trong lĩnh vực y tế, hệ suy diễn được sử dụng để chẩn đoán bệnh lý dựa trên triệu chứng và dữ liệu xét nghiệm.
Nó có khả năng kết hợp thông tin từ nhiều nguồn để đưa ra chẩn đoán và điều trị v. Hiệu quả của suy diễn là dựa vào các thông tin, dữ liệu lịch sử. Trong khi đó, thông tin, dữ liệu biến đổi không ngừng và ngày càng chứa nhiều các đặc tính mới. Những đặc tính mới trong dữ liệu như tính mơ hồ, tần suất/chu kỳ đã làm cho logic truyền thống gặp phải khó khăn hay không hiệu quả trong quá trình suy luận.
Các nghiên cứu dựa trên suy diễn mờ [42] có khả năng giải quyết các tình huống mà thông tin, dữ liệu có tính mơ hồ, không chắc chắn; hệ suy diễn mờ phức [1], [43] đi kèm với tính chu kỳ/định kỳ. 10 Các phương pháp suy diễn khác nhau được sử dụng phụ thuộc vào từng bài toán khác nhau. Hệ suy diễn mờ phức [43], còn được gọi là hệ logic mờ phức (CFLS), dựa trên cơ sở là hệ suy diễn mờ và được biết đến với khả năng xử lý các khái niệm ngôn ngữ liên quan đến các tri thức có tính chất tần suất và chu kỳ. Tức là hệ suy diễn mờ phức phù hợp với các các bài toán liên quan đến các dữ liệu không chắc chắn, mơ hồ, lại có tính tần suất và chu kỳ [5], [7].
Tổng quan các nghiên cứu liên quan 1. Các mô hình suy diễn mờ Logic mờ đã và luôn được đề cập như là một công cụ để mô tả những thông tin không chắc chắn, mơ hồ. Nó được áp dụng phổ biến trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến dự báo, điều khiển, phát hiện mẫu và các hệ hỗ trợ ra quyết định với thông tin không chắc chắn. Nó cũng được coi là mô hình tính toán mà có khả năng xử lý đồng thời cả tri thức ngôn ngữ và dữ liệu số.
Logic mờ giúp máy tính hiểu và bắt chước suy nghĩ của con người, với mục tiêu làm tăng hiệu quả của quá trình ra quyết định đối với các tri thức mờ hồ, không chắc chắn. Lý thuyết logic mờ đã tạo ra một loạt các hệ thống suy diễn mờ [2], [3], [5], [44], [45] v. Mỗi hệ suy diễn mờ được mô tả như là một ánh xạ phi tuyến để đưa ra kết quả dựa trên các lập luận mờ và một tập các luật mờ dạng IF-THEN. Hệ suy diễn mờ Quá trình suy diễn thực hiện liên kết các tri thức đã có một cách logic và khoa học để suy dẫn ra các tri thức mới.
Cơ chế suy diễn thường phụ thuộc nhiều vào cách thức biễu diễn tri thức và không có một phương pháp suy diễn duy nhất cho mọi loại tri thức. Được xây dựng trên cơ sở lý thuyết mờ, FIS là một mô hình suy diễn dựa trên tri thức được mờ hóa, thường được áp dụng trong quá trình hỗ trợ ra quyết định. FIS tỏ ra hiệu quả trong trường hợp tri thức không đầy đủ, bất định hoặc không chính xác. FIS dựa trên lý thuyết tập mờ đã và đang được sử dụng thành công trong nhiều lĩnh 11 vực y tế, kinh tế, xử lý ảnh, xử lý ngôn ngữ tự nhiên v.
FIS được thiết kế để xử lý và giải quyết các vấn đề có sự không chắc chắn, không rõ ràng hoặc không chính xác trong thông tin hoặc dữ liệu đầu vào. Nó thường được ứng dụng trong các tình huống thực tế, nơi mà các hệ thống dựa trên logic truyền thống không thể đáp ứng đầy đủ do sự mơ hồ và bất định trong thông tin [46]. Một trong những điểm mạnh của FIS là khả năng xử lý tri thức mơ hồ thay vì dựa vào giá trị nhị phân (đúng/sai) như các hệ thống logic truyền thống. Điều này cho phép FIS biểu diễn được các dữ liệu có tính chất không rõ ràng và không chắc chắn hiệu quả hơn và FIS thường đem đến kết quả tốt hơn trong các tình huống thực tế.1: Mô hình hệ suy diễn mờ tổng quát [47] Cấu trúc của một hệ suy diễn mờ cơ bản gồm 5 thành phần : - Giao diện mờ hóa giúp chuyển đổi các giá trị đầu vào rõ thành các biên độ phù hợp với các giá trị ngôn ngữ; - Cơ sở dữ liệu với định nghĩa các hàm thuộc của các tập mờ được sử dụng trong các luật mờ; - Bộ cơ sở luật gồm các luật mờ IF - THEN; - Đơn vị thực thi quyết định trong đó thực hiện các hoạt động suy diễn của các luật (cơ chế suy diễn); 12 - Giao diện giải mờ chuyển đổi các giá trị kết quả suy diễn mờ ra các lớp đầu ra.
Thông thường, bộ cơ sở luật và cơ sở dữ liệu liên kết như là một bộ cơ sở tri thức của hệ suy diễn. Chi tiết các bước suy diễn mờ - Mờ hoá các biến vào: Với đầu vào có tính chất rõ ràng và có thể đo lường cụ thể, để tham gia vào quá trình suy diễn mờ, thường cần phải thực hiện một quá trình gọi là mờ hoá. Mờ hoá có thể được định nghĩa là một phép ánh xạ từ không gian các giá trị quan sát được (rõ ràng) sang không gian của các từ (tập hợp mờ) trên không gian nền của các biến ngôn ngữ. - Sử dụng các phép toán mờ (ví dụ: AND hoặc OR) cho các giả thiết trong từng luật (với việc sử dụng các phép toán t - chuẩn hoặc t - đối chuẩn).
- Thực hiện phép toán kép để tính toán các giá trị từ giả thiết đến kết luận trong từng luật. - Kết hợp kết quả từng luật thành một kết quả duy nhất cho toàn bộ hệ thống qua việc sử dụng toán tử gộp. - Trích xuất giá trị rõ từ kết quả suy diễn mờ cho ta một số kết quả đoán định sử dụng hàm thuộc của giá trị mờ đầu ra.