CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY TNHH MỘT THÀNH VIÊN THUỐC LÁ SÀI GÒN VÀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Công ty TNHH một thành viên Thuốc lá Sài Gòn và vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan về ngành thuốc lá Việt Nam: Ở Việt Nam, nghề trồng thuốc lá và tập quán hút thuốc lá đã có từ lâu đời nhưng ngành công nghiệp sản xuất thuốc lá chỉ bắt đầu từ tháng 7 năm 1929, đánh dấu bằng sự ra đời của Hãng Thuốc lá Đông Dương (gọi tắt là M. – tiền thân của Công ty Thuốc lá Sài Gòn) tại Sài Gòn.
Cho tới nay, ngành Thuốc lá Việt Nam tập trung gọn còn 7 đầu mối sản xuất kinh doanh thuốc lá, trong đó: Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam là Tổng Công ty Nhà nước hạng đặc biệt; các Tổng công ty thuộc các địa phương: Tổng Công ty Khánh Việt, Tổng Công ty Công nghiệp sài Gòn, Tổng Công ty Công nghiệp Thực phẩm Đồng Nai; Công ty Thuốc lá Hải Phòng, Công ty Thuốc lá và Xuất nhập khẩu Bình Dương làm kinh tế Đảng và Công ty 27/7 do Sở Lao động Thương Binh và Xã hội TP. Ngoài ra, các công ty thuốc lá Việt Nam còn liên doanh và hợp tác với những tập đoàn thuốc lá lớn trên thế giới. Công nghiệp thuốc lá là một trong số ít các ngành có phạm vi rộng. Ngành công nghiệp thuốc lá Việt Nam bao gồm trồng cây thuốc lá để tạo nguyên liệu, bảo quản sơ chế, sản xuất thuốc lá cho đến các hoạt động tiêu thụ và phân phối sản phẩm.
Ngành này cấu thành nên một bộ phận quan trọng của nền kinh tế và cơ cấu xã hội của Việt Nam, , theo con số thống kê của Hiệp hội Thuốc lá Việt Nam năm 2007, có trên 360.000 người có công ăn việc làm nhờ vào ngành này. Thuế thuốc lá cũng chính là một nguồn thu chủ yếu của ngân sách Trung ương cũng như ngân sách tỉnh. Năm 2007, ngành thuốc lá đã đóng góp 8.000 tỉ đồng tiền thuế cho ngân sách nhà nước và là ngành có mức đóng thuế cao thứ ba sau dầu khí và phát điện. -2- Thuốc lá là ngành canh tác phi lương thực có quy mô lớn nhất thế giới.
Người nông dân lựa chọn trồng cây thuốc lá vì đây là giống cây sinh trưởng phát triển mạnh trên các vùng đất cằn cỗi, điều kiện thời tiết khắc nghiệt và có mức giá tiêu thụ ổn định. Nông dân có thể có thu nhập tốt từ những khoảnh ruộng thuốc lá nhỏ, cho phép họ có thể sử dụng khoản thu đó đầu tư vào canh tác các cây nông sản. Kỹ thuật sử dụng để trồng cây thuốc lá đảm bảo chất lượng cũng giúp cải thiện việc canh tác các cây trồng khác. Tổng năng lực của toàn ngành hiện nay là hơn 3.
Bảng 1-1: Tình hình thực hiện sản lượng, nộp thuế & ngân sách năm 2012 của ngành thuốc lá STT Các đơn vị Sản lượng Nộp ngân sách và thực hiện thuế nhập khẩu (triệu bao) (tỷ đồng) 1 Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam 3.079 Trong đó Công ty Thuốc lá Sài Gòn 1.274 2 Các doanh nghiệp thuộc địa phương 2.534 Tổng cộng toàn ngành 5. Tổng quan về Công ty Thuốc lá Sài Gòn 1. Quá trình hình thành và phát triển: Giới thiệu công ty: Tên công ty : - Tên đầy đủ: Công ty trách nhiệm hữu hạn một Thành viên Thuốc lá Sài Gòn. - Tên giao dịch tiếng Việt: CÔNG TY THUỐC LÁ SÀI GÒN.
- Tên giao dịch tiếng Anh: SAIGON TOBACCO COMPANY LIMITED. - Tên viết tắt: VINATABA SAI GON. Trụ sở: - Lô C45/I, đường số 7, Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, xã Vĩnh Lộc A, huyện Bình Chánh, TP. - Số điện thoại: (08) 37656099, 37657788 – Số Fax: (08) 37656345 -3- - Email: saigonscf@saigontabac.vn - Website: www.vn - Biểu tượng: Vốn điều lệ: 514.
Ngành, nghề kinh doanh: Sản xuất và kinh doanh thuốc lá điếu. Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Duy Khánh - Giám đốc. Chủ sở hữu của công ty: Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam (Vinataba) Lịch sử hình thành: Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Một Thành viên Thuốc lá Sài Gòn có thể chia thành 3 giai đoạn phát triển chính: Giai đoạn 1 (1929 – 1975): Hãng Thuốc lá M.C (Manufactures Indochinoises de Cigarettes) bắt đầu thành lập khi toàn cõi Đông Dương chưa có một nhà máy thuốc lá nào hoạt động theo chu trình công nghệ.C kết hợp với công ty British American Tobacco Company Ltd (tập đoàn thuốc lá nổi tiếng thế giới của Anh), gọi tắt là B. thành lập công ty phụ thuộc – Công ty Thuốc lá thuộc địa COTAB.
Đây là giai đoạn M.C phát triển đến độ cao cả về sản lượng lẫn lợi nhuận. Sản phẩm của M.C trong giai đoạn này được tiêu thụ rộng khắp thị trường và được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng với các nhãn thuốc nổi tiếng như MIC, Giant, Cotab …, sản lượng trong những năm này đã tăng lên đến 89,2 triệu bao/năm. -4- Giai đoạn 2 (1975 – 1988): Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang cơ chế thị trường. Ngày 28/12/1977, Bộ Lương thực – Thực phẩm ra Quyết định chính thức số 3121 LTTP/CT chuyển Xí nghiệp quân quản Thuốc lá M.C thành Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn nằm trong Xí nghiệp Liên hiệp Thuốc lá Miền Nam.
Ở thời kỳ này, chất lượng và sản lượng của Nhà máy vẫn tăng lên từng ngày một cách nhanh chóng. Sản phẩm sản xuất ra đủ khả năng cạnh tranh với các nhãn hiệu thuốc lá ngoại. Sản lượng trung bình trong giai đoạn này là 280 triệu bao/ năm. Nhà máy đã thiết lập được hệ thống cửa hàng, đại lý tư nhân ở hầu khắp các thị trường miền Nam, miền Tây, miền Trung và bước đầu xuất hiện ở thị trường miền Bắc.
Giai đoạn 3 (1988 – Nay): Phát triển và hội nhập. Vào năm 1989, tại Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn, những sản phẩm thuốc lá đầu lọc đạt tiêu chuẩn quốc tế lần đầu tiên được sản xuất trên đất nước Việt Nam. Sản phẩm sản xuất trong thời kỳ này được phân khúc theo thu nhập với mức giá dao động từ 1. Sản phẩm trong thời kỳ này rất đa dạng và phong phú với nhiều loại thuốc cao cấp như Vinataba, Sài Gòn, Souvenir, Era, Du lịch xuất khẩu … Ngoài ra, vào năm 1995, Nhà máy còn liên doanh với tập đoàn thuốc lá nổi tiếng thế giới B.T để sản xuất nhãn thuốc 555, chiếm lĩnh thị trường thuốc lá cao cấp ở TP.
HCM và bắt đầu xuất khẩu sang thị trường các nước Đông Âu, Trung Đông, … thông qua các nhà phân phối trung gian. Từ 29/01/2004, Nhà máy đã xây dựng và áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9001:2000 do Tổ chức BVQI chứng nhận. Cũng trong năm 2004, Nhà máy tiến hành sáp nhập với Nhà máy Thuốc lá Vĩnh Hội – một trong hai nhà máy thuốc lá lớn nhất miền Nam trước đây. -5- Với việc gia tăng doanh thu, đi đầu trong việc nộp ngân sách nhà nước, Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn đã trở thành nhà máy trung tâm, sản xuất với sản lượng lớn sản phẩm, chiếm tỷ trọng cao nhất trong Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam.
Từ ngày 01/01/2006, theo Quyết định số 319/2005/QĐ-TTg ngày 06/12/2005 của Thủ tướng Chính phủ, Nhà máy Thuốc lá Sài Gòn thuộc Tổng công ty Thuốc lá Việt Nam chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên Thuốc lá Sài Gòn, tiếp tục là Công ty trọng tâm của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam. Cuối năm 2011, Công ty đã di dời toàn bộ cơ sở sản xuất ra Khu Công nghiệp Vĩnh Lộc A. Bộ máy tổ chức của công ty: Hội đồng thành viên Ban giám đốc Các phân xưởng Các phòng ban Các đơn vị phụ sản xuất nghiệp vụ trợ, phụ trợ Phân xưởng sợi Văn phòng Kho nguyên liệu Phân xưởng vấn bao Phòng Tổ chức nhân sự Kho vật liệu Phân xưởng nhãn quốc tế Phòng Tài chính kế toán Kho cơ khí Phân xưởng cơ khí Phòng Tiêu thụ Kho Thành phẩm Phòng Thị trường Đội xe Phòng Kỹ thuật cơ điện Đội bảo vệ Phòng Kỹ thuật công nghệ Trạm y tế Phòng Nghiên cứu & phát triển Nhà ăn Phòng Kiểm tra nguyên vật liệu Phòng Kiểm tra chất lượng sản phẩm Phòng Đầu tư xây dựng Phòng Xuất nhập khẩu Ban Quản lý hệ thống chất lượng Ban Động lực Hình 1-1: Sơ đồ tổ chức của Công ty Thuốc lá Sài Gòn -6- Thành tựu đạt được: Trải qua hành trình lịch sử 84 năm xây dựng và phát triển, Công ty Thuốc lá đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về nhiều mặt: − Sản phẩm và hệ thống phân phối của Công ty đã phủ khắp các tỉnh thành trong cả nước. Kênh phân phối sản phẩm của Công ty cũng được phát triển đa dạng gồm: nhà cung cấp, nhà phân phối trung gian, hệ thống cửa hàng, kho hàng.
− Thị trường xuất khẩu cũng được mở rộng từ châu Á, châu Phi đến Nam Mỹ và cả châu Âu vốn là thị trường cao cấp. − Tính về sản lượng, năm 2007 Công ty Thuốc lá Sài Gòn được xếp vị trí đứng đầu toàn ngành thuốc lá (1.488 triệu bao, chiếm hơn 32% sản lượng của toàn ngành, gần 60% sản lượng của Tổng Công ty Thuốc lá Việt Nam). − Chất lượng sản phẩm truyền thống ngày càng được cải tiến, phát triển nhiều sản phẩm mới đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hiện nay cho thị trường nội địa và cả thị trường xuất khẩu, góp phần vào việc đẩy mạnh chiến lược phát triển thương hiệu Thuốc lá Sài Gòn ngày càng vững mạnh trong cả nước và trong khu vực. − Các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng và trang thiết bị máy móc hiện đại được thực hiện với vốn đầu tư rất lớn trong thời gian vừa qua: dự án di dời lên cơ sở sản xuất mới tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc với diện tích 14 ha; dự án đầu tư dây chuyền chế biến sợi 6 tấn/giờ; dự án đầu tư dây chuyền cuốn điếu và đóng bao thuốc lá 10.000 điếu/giờ; dự án đầu tư thiết bị đồng bộ cho Kho nguyên liệu và Kho thành phẩm.
− Bên cạnh đó, công tác phát triển nguồn nhân lực cũng được Công ty chú trọng. Để nâng cao trình độ tay nghề cho cán bộ công nhân viên, hàng năm, Công ty tổ chức nhiều chương trình huấn luyện nội bộ từ cấp quản lý đến nhân viên. Ngoài ra, đội ngũ kỹ sư cũng thường xuyên được đưa đi tập huấn tại nước ngoài. − Công ty luôn đảm bảo việc làm và ổn định thu nhập cho gần 3.000 cán bộ công nhân viên trong tình hình kinh tế khó khăn hiện nay.
− Đóng góp tích cực trong nộp ngân sách Nhà nước hàng năm.