CHƯƠNG I - TỔNG QUAN VẬT LIỆU CẤP PHỐI ĐÁ DĂM 0x4 LÀM LỚP MÓNG ĐƯỜNG Ở TÂY NINH. TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT, THỦY VĂN, CÁC LOẠI VẬT LIỆU LÀM ĐƯỜNG Ở TÂY NINH.1 TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU ĐƯỢC SỬ DỤNG LÀM LỚP MÓNG ĐƯỜNG Ô TÔ Ở KHU VỰC TỈNH TÂY NINH.1 Tổng quan về vật liệu cấp phối đá dăm 0x4 làm lớp móng đường ở Tây Ninh, thực trạng sử dụng loại vật liệu này: - Có rất nhiều loại vật liệu được sử dụng để làm lớp móng đường ô tô như: móng cấp phối đá dăm 0x4 (đá dăm loại 1 và 2), móng đá macadam, móng cấp phối đá dăm 0x4 gia cố xi măng, cấp phối sỏi đỏ… Ở Tây Ninh hiện nay chỉ sử dụng các loại vật liệu sau làm móng đường như: đá maccadam, đá 4x6 chèn sỏi đỏ, đá 4x6 chèn cấp phối thiên nhiên, cấp phối đá dăm 0x4 và sỏi đỏ. - Hiện nay, lớp móng đường ô tô làm bằng đá 4x6 chèn sỏi đỏ được sử dụng hầu hết cho các kết cấu áo đường vì có những ưu điểm như sau: + Tận dụng được nguồn đá 4x6 và sỏi đỏ sẳn có ở địa phương. + Công nghệ thi công đơn giản.
+ Độ ổn định của nền đường cao nhờ khả năng chịu lực lớn của đá 4x6. + Dạng kết cấu này đã được minh chứng từ các công trình cụ thể như: Đường ĐT 790, thuộc Thành Phố Tây Ninh và huyện Hòa Thành đã xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng từ năm 2003; Đường ĐT 796 – Thành Long – Ninh Điền – Long Vĩnh thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã được xây dựng hoàn thành đưa vào khai thác sử dụng từ năm 2003; - Bên cạnh những ưu điểm nêu trên thi khi sử dụng lớp móng đường làm bằng đá 4x6 chèn sỏi đỏ còn tồn tại nhược điểm là: + Yêu cầu đòi hỏi cao về hình dạng và kích cỡ đá. + Tốn nhiều công lu lèn để đạt cường độ theo yêu cầu. + Việc chèn sỏi đỏ nhiều hay ít phụ thuộc nhiều vào tay nghề và kinh nghiệm của người thi công rải vật liệu chèn.
+ Khả năng thông xe khi thi công là không cao.2 Tình hình, khả năng sử dụng vật liệu cấp phối đá dăm 0x4 làm móng đường ô tô ở khu vực tỉnh Tây Ninh. Các chỉ tiêu kỹ thuật được áp dụng: Mạng lưới đường tỉnh Tây Ninh hiện nay gồm 02 tuyến Quốc Lộ (QL22 - Xuyên Á và QL22B), 39 tuyến tỉnh lộ, 218 tuyến huyện lộ và mạng lưới đường GTNT. Trong đó: - Vật liệu cấp phối đá dăm 0x4 đã được sử dụng làm lớp móng đường ô tô ở khu vực tỉnh Tây Ninh cho các tuyến đường cụ thể như sau: 02 tuyến đường Quốc lộ 22A (Xuyên Á và QL22B), Đường ĐT 782-784, Đường ĐT 785, Đường 30/4, Đường ĐT 786 đoạn từ huyện đội huyện Bến Cầu đến ngã tư Hữu Nghị và mới đây là đường ĐT 781 đoạn từ cầu K13 đến ngã ba Suối Đá, huyện Dương Minh Châu đã được thi công nghiệm thu đưa vào khai thác sử dụng vào năm 2014. - Các tuyến đường tỉnh lộ, huyện lộ còn lại và mạng lưới đường GTNT hầu hết là sử dụng vật liệu là đá 4x6 chèn sỏi hoặc đá maccadam làm lớp móng nền đường.
Các chỉ tiêu kỹ thuật được áp dụng gồm: - Đường ô tô – Yêu cầu thiết kế TCVN 4054 – 2005. - TCVN 8859:2011 Móng cấp phối đá dăm trong kết cấu áo đường ô tô – Thi công và nghiệm thu.2 TỔNG QUAN ĐIỀU KIỆN ĐỊA CHẤT, THỦY VĂN VÀ CÁC LOẠI VẬT LIỆU LÀM ĐƯỜNG Ở TÂY NINH.1 Đặc điểm địa chất khu vực tỉnh Tây Ninh: a/ Về địa tầng [15]: Trên bình đồ cấu trúc địa chất hiện tại, tỉnh Tây Ninh là nơi tiếp giáp giữa rìa Tây Nam của địa khối Kom Tum và bồn trũng Cửu Long – Côn Sơn. Vì vậy tren diện tích nghiên cứu của tỉnh phát triển các thành tạo địa chất mang sắc thái đặc trưng của hai miền cấu trúc đó, bao gồm các thành tạo trầm tích phun trào có tuổi từ Pecmi muộn đến Đệ tứ. Trên diện tích phía Đông bắc của tỉnh, dọc theo thung lũng Sông Sài Gòn phát triển các thành tạo trầm tích lục nguyên – Cacbonat có tuổi từ Pecmi muộn đến Trias sớm.
Ngoài ra, ở một số khu vực khác (như khu Trại Bí, xã Tân Phong, huyện Tân Biên và khu Lộc Trung, xã Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu) đã ghi nhận sự có mặt của các thành tạo trầm tích lục nguyên tuổi Trias muộn. Tại sườn Tây, Tây Bắc núi Bà Đen còn phát triển các thành tạo trầm tích phun trào tuổi Jura muộn – Kreta sớm. Những thành tạo địa chất trên bị phủ bởi các trầm tích Đẹ tứ có nguồn gốc khác nhau, bao gồm trầm tích sông, sông – đầm lầy, trầm tích biển và hỗn hợp sông – biển. Trên cơ sở tài liệu thu thập được công bố (bản đồ địa chất tỷ lệ 1:500.000) và tài liệu điều tra bổ sung của đề án “Nghiên cứu bổ sung địa chất và khoáng sản tỉnh Tây Ninh” tỷ lệ 1:100.000 tiến hành năm 1998-2000 các thành tạo trầm tích phun trào có mặt trong phạm vi tỉnh Tây Ninh được xếp vào những phân vị địa tầng có tuổi từ Pecmi muộn đến đệ tứ sau: 1- Hệ tầng Tà Thiết (P3tt).
2- Hệ tầng sông Sài Gòn (T3ssg). 3- Hệ tầng Dầu Tiếng (T3dt). 4- Hệ tầng Long Bình (J3-K1lb). 5- Hệ tầng Bà Miêu (N2bm).
6- Hệ tầng Xuân Lộc (βQ12xl). 7- Trầm tích sông Pleistocen sớm – Hệ tầng đất Cuốc (aQ11đc) 8- Trầm tích sông Pleistocen giữa – muộn – Hệ tầng Thủ Đức (aQ12-3tđ). 9- Trầm tích sông, sông – biển Pleistocen muộn – Hệ tầng Củ Chi (aQ13cc); Hệ tầng Mộc Hóa (amQ13mh). 10- Các trầm tích sông, sông đầm lầy, trầm tích sông – biển Holocen.
11- Trầm tích Deluvi Đệ tứ không phân chia. Dưới đây là các mô tả phân vị địa chất từ cổ đến trẻ: GIỚI PALEOZOI (PZ): HỆ PECMI – THỐNG THƯỢNG (P2) Hệ tầng Tà Thiết (P2tt): Trên diện tích tỉnh Tây Ninh thành tạo trầm tích hệ tầng Tà Thiết (P2tt) có diện lộ nhỏ tại khu vực Sóc Con Trăn, Sroc Tâm, Chà Và. Thành phần chủ yếu là đá vôi. Đá vôi hệ tầng Tà Thiết hầu hết bị phủ bởi trầm tích Neogen.
Tổng chiêu dày của đá vôi hệ tầng Tà Thiết (P2tt) là 320m. Đá vôi có hàm lượng CaO đạt chỉ tiêu cho sản xuất xi măng. GIỚI MESOZOI (MZ): Trầm tích thuộc giới Mesozoi có diện lộ không lớn. Các đá phiến sét, sét vôi thuộc giới này lộ ra dọc sông Sài Gòn và trong các lòng suối ở vùng Đông Bắc tỉnh Tây Ninh, thuộc xã Tân Hòa, huyện Tân Châu; đá cuội kết, sạn kết, sét kết lộ ra trên đồi Trại Bí, huyện Tân Biên hoặc ở núi Cậu, núi Ông bên bờ hồ Dầu Tiếng; đá andesit lộ ra ở núi Phụng nằm về phía Tây Nam núi Bà Đen.
Các trầm tích Mesozoi được phân chia thành các phân vị địa tầng sau: hệ tầng sông Sài Gòn (T1ssg), hệ tầng Dầu Tiếng (T3dt), hệ tầng Long Bình (J3lb). dưới đây là mô tả chi tiết các phân vị địa tầng: HỆ TRIAS – THỐNG DƯỚI (T1): Hệ tầng sông Sài Gòn (T1ssg) Mặt cắt tiêu biểu của hệ tầng sông Sài Gòn có điểm lộ đá vôi Tà Thiết đến điểm lộ đá vôi Tống Lê Chân dài khoảng 10Km. Hệ tầng sông Sài Gòn gồm 03 tập: - Tập dưới: gồm đá phiến sét, sét vôi màu xám, xám đen phân lớp mỏng đến dày. - Tập giữa: gồm bột kết màu xám sẫm phân lớp mỏng và vừa, xen các lớp sét kết, sét vôi kết khi bị phong hóa có màu lục, vàng lục.
- Tập trên: gồm các lớp bột kết, cát kết hạt nhỏ đến hạt vừa, có màu xám phân lớp dày. Trên địa phận tỉnh Tây Ninh hệ sông Sài Gòn bị phủ bởi trầm tích Neogen dày 30-50m. Toàn bộ hệ tầng xâm thực bóc mòn hình thành bề mặt san bằng nằm dưới lớp phủ và chỉ lộ ra dọc theo các dòng suối trong khu vực Đông Bắc xã Tân Hòa, huyện Tân Châu. HỆ TRIAS – THỐNG TRÊN (T3): Hệ tầng Dầu Tiếng (T3dt) Trên diện tích tỉnh Tây Ninh, trầm tích hạt thô cuội kết, sạn kết, cát kết thuộc hệ tầng Dầu Tiếng lộ ra trên diện tích hẹp (3km2) ở đồi Trại Bí.
Thành phần chủ yếu là sạn kết màu trắng phân lớp trung bình đến dày. Xen trong sạn kết là các lớp cát kết màu xám trắng, hạt thô, phân lớp dày. HỆ JURA – THỐNG THƯỢNG – KRETA THỐNG HẠ (J3-K1): Hệ tầng Long Bình (J3-K1lb) Trên địa phận tỉnh Tây Ninh, đá phun trào andesit phân bố ở ven rìa phía Tây núi Bà Đen trên chiều dài ~3Km, rộng 500-700m và ở đồi 95 dưới lớp phủ bazan dày 4-5m được liên hệ với các phun trào andesit phân bố trên một số vùng ở đồng bằng miền Đông Nam Bộ. GIỚI KAINOZOI (KZ): Trong phạm vi tỉnh Tây Ninh, trầm tích Kainozoi chiếm phần lớn diện tích, tạo nên địa hình những đồng bằng cao ở phía Đông, Đông Bắc rồi chuyển dần sang địa hình đồng bằng thấp ở phía Nam và Tây Nam.
HỆ NEOGEN – HỆ TẦNG BÀ MIÊU (N2bm) Thành tạo trầm tích hệ tầng Bà Miêu phân bố trên diện tích các xã Tân Đông, Tân Hoà, huyện Tân Châu, thuộc phần Đông Bắc tỉnh Tây Ninh, tạo nên kiểu địa hình đồng bằng cao 50-60m. Mặt cắt địa chất đầy đủ và đặt trưng cho thành tạo trầm tích hệ tầng Bà Miêu với thứ tự từ trên xuống dưới như sau: - Từ 77,0 – 88,2m: Sét bột cát màu xám trắng, vàng nâu, nâu đỏ loang lỗ. - Từ 88,2 – 90,0m: Cát bột màu xám trắng, xám vàng nhạt. - Từ 90,0 – 96,2m: Cát lẫn ít sạn sỏi màu xám trắng.
- Từ 96,2 – 100,2m: Cát chứa bột sét màu xám tro, xám xanh. - Từ 100,2 – 121,0m: Cát chứa sỏi sạn màu xám tro, xám xanh lục. Bề dày chung của hệ tầng Bà Miêu tại lỗ khoan này là 44,0m. HỆ ĐỆ TỨ: THỐNG PLEISTOCEN Phụ thống Pleisocen hạ: trầm tích sông – hệ tầng Đất Cuốc (aQ11đc) Trên diện tích tỉnh Tây Ninh thành tạo trầm tích hệ tầng Đất Cuốc phân bố thành dải kéo theo phương TB-ĐB tại khu vực Bàu Tràm, xã Tân Hòa, huyện Tân Châu với chiều dài 800m, rộng 200m.
Thành tạo trầm tích sông hệ tầng Đất Cuốc có thành phần thạch học gồm: cuội, sỏi, cát, kaolin. Bề dày của hệ tầng khoảng 27m. Phụ thống Pleistocen trung: phun trào bazan – hệ tầng Xuân Lộc (βQ12xl) Không bắt gặp diện lộ của bazan gốc mà chỉ gặp các thành tạo vỏ phong hóa có thành phần chủ yếu là bột sét có màu đỏ, phân bố nhiều ở khu vực Chàng Riệc, xã Tân Đông, huyện Tân Châu, chúng thường phân bố dưới dạng đồi thấp có độ cao thay đổi từ 40-50m.