mở đầu: Trình bày lý do lựa chọn đề tài; mục tiêu và phạm vi nghiên cứu; ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài. - Chương 2 Tổng quan 4 + Tổng quan về dạng hư hỏng lún vệt hằn bánh xe; + Tổng quan về phương pháp thiết kế cấp phối cốt liệu Bailey; + Tổng quan về cấp phối cốt liệu bê tông nhựa chặt; + Tổng quan về độ rỗng cốt liệu VMA, chiều dày lớp màng nhựa Tf ; + Các thí nghiệm thực hiện so sánh khả năng làm việc của 5 hỗn hợp bê tông nhựa thực hiện trong nghiên cứu. - Chương 3 Thiết kế cấp phối cốt liệu của các hỗn hợp bê tông nhựa. - Chương 4 Độ rỗng cốt liệu VMA và các đặc tính cơ lý của hỗn hợp bê tông nhựa.
- Chương 5 Kết luận và kiến nghị. 5 CHƢƠNG 2 TỔNG QUAN 2.1 NGUYÊN NHÂN VÀ CÁC BIỆN PHÁP KHẮC PHỤC HẰN LÚN VỆT BÁNH XE 2.1 Nguyên nhân của hiện tƣợng hằn lún vệt bánh xe Hiện nay trên các tuyến quốc lộ xuất hiện hằn lún vệt bánh xe gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến khả năng phục vụ và an toàn giao thông. Hằn lún vệt bánh xe có thể được chia ra làm hai dạng: hiện tượng lún do lớp móng hoặc nền đường và lún do lớp bê tông nhựa. Các vệt lún xuất hiện dọc theo tuyến đường tại những vị trí chịu tác dụng của tải trọng bánh xe gây ra.1 Vệt lún do lớp móng hoặc nền đường kém.2 Vệt lún do chất lượng của bê tông nhựa.[ ] 6 Dạng vệt lún do xảy ra do đất nền gây ra, hiện tượng lún do có quá nhiều ứng suất lặp tác dụng vào vùng đất nền bên dưới lớp bê tông nhựa hoặc có sự xâm nhập của nước làm suy giảm cường độ của lớp móng.
Chiều dày hoặc cường độ của lớp bê tông nhựa không đủ giảm thiểu ứng suất mà đất nền có thể chịu được. Dạng vệt lún xảy ra ở lớp bê tông nhựa, lớp bê tông nhựa không đủ cường độ kháng cắt dưới tác dụng của tải trọng xe tải nặng. Dạng lún này thường xảy ra trong mùa hè với nhiệt độ tăng cao hoặc xảy ra ở những vị trí tải trọng nặng tác dụng chậm. Dạng hư hỏng này liên quan đến sự kết hợp giữa các hạt cốt liệu và nhựa đường.[ ] Nguyên nhân gây ra hiện tượng hằn lún vệt bánh xe có thể được xem xét đến như: lượng xe quá tải, nhiệt độ tăng cao, chất lượng thi công, công tác kiểm tra và nghiệm thu lớp BTN không đảm bảo (như vật liệu sử dụng trong hỗn hợp bê tông nhựa không đảm bảo yêu cầu, quy trình thi công bị vi phạm đặc biệt là kiểm tra chất lượng vật liệu xây dựng bê tông nhựa, nhiệt độ trộn, rải, lu lèn.), kết cấu mặt đường lựa chọn không hợp lý và các nền đường đất yếu không được tính toán và xử lý hợp lý, thiết kế nền áo đường chưa phù hợp.2 Biện pháp khắc phục hằn lún vệt bánh xe Hiện nay đã có nhiều nghiên cứu và biện pháp được thực hiện để giảm thiểu vệt hằn bánh xe trên mặt đường BTN.
Có một số giải pháp để khác phục hiện tượng vệt hằn bánh xe trên mặt đường bê tông nhựa như sau: - Tăng cường kiểm soát chất lượng nguồn nguyên vật liệu đầu vào, quá trình thi công và nghiệm thu và kiểm soát lượng xe quá tải. - Gia cường, xử lý nền đường và gia cố phần móng sử dụng cấp phối đá dăm trộn xi măng. - Thay đổi thành phần và tỉ lệ phối trộn giữa các hạt cốt liệu hợp lý để tạo nên một bộ khung chịu lực tốt. 7 - Sử dụng bê tông nhựa polime hoặc bê tông nhựa có sử dụng phụ gia, hoặc thay bằng mặt đường cứng BTXM.
Tuy nhiên, mặt đường bê tông xi măng có giá thành cao, thi công lâu và độ êm thuận không tốt. - Sử dụng cốt liệu có bề mặt nhám, hình khối có góc cạnh và cần tăng hàm lượng hạt thô trong cấp phối như QĐ 858/QĐ -BGTVT[ ] đưa miền cấp phối đi xuống so với miền cấp phối của TCVN 8819-2011[ ]. - Xem xét tăng mô đun đàn hồi của bê tông nhựa bằng các cách sau :sử dụng BTN polyme, sử dụng BTN thông thường với phụ gia polime SBS dạng hột, BTN thông thường gia cường cốt sợi thủy tinh hoặc lưới sợi thủy tinh. - Nghiên cứu, sử dụng loại nhựa đường có mác nhựa thấp hơn.
Trong các giải pháp được nghiên cứu và thực hiện giảm vệt hằn bánh xe trên mặt đường BTN, biện pháp nghiên cứu tìm cấp phối cốt liệu tối ưu tạo nên một bộ khung cốt liệu chịu lực tốt được ưu tiên mà không làm tăng giá thành đầu tư xây dựng. Khả năng làm việc của BTN liên quan đến cốt liệu, độ rỗng cốt liệu và hàm lượng nhựa. Đặc tính và tỉ lệ của mỗi thành phần trong hỗn hợp có ảnh hưởng lớn đến khả năng làm việc của BTN. Vì vậy, việc xác định đường cong cấp phối cốt liệu, hàm lượng nhựa, độ rỗng dư Va, độ rỗng cốt liệu VMA hợp lý rất quan trọng.2 THIẾT KẾ CẤP PHỐI CỐT LIỆU THEO PHƢƠNG PHÁP BAILEY 2.1 Nguồn gốc và sự phát triển của phƣơng pháp Bailey Phương pháp Bailey được phát triển bởi Robert Bailey vào đầu những năm 1980 dựa trên kinh nghiệm thiết kế hỗn hợp BTN của ông.
Sau đó phương pháp này tiếp tục được phát triển bởi Bill Vavrik và Bill Pine. Trong hỗn hợp BTN, cốt liệu chiếm 90-95% theo khối lượng và 75-85 % theo thể tích nên cốt liệu đóng vai trò quan trọng trong sự làm việc của BTN. Phần lớn cường độ chịu nén và sức kháng trượt được tạo ra từ cấu trúc cốt liệu. Phương pháp này cung cấp cho người thiết kế một cách nhìn và đánh giá tốt hơn về cốt liệu và ảnh hưởng của nó đến các đặc trưng về thể tích của hỗn hợp BTN.
Phương pháp này được sử dụng trong lúc thiết 8 kế hỗn hợp cốt liệu và có thể dùng nó để kiểm tra, đánh giá và hiệu chỉnh trong quá trình thi công. Phương pháp Bailey có thể sử dụng kèm theo các phương pháp thiết kế bê tông nhựa như: Marshall, Hveem và Superpave.[8] Mức độ cài móc giữa các hạt cốt liệu là số liệu thiết kế đầu vào của phương pháp Bailey và nhờ sự cài móc giữa các hạt cốt liệu tạo nên sức kháng lún trồi cho hỗn hợp BTN. Robert Bailey đã sử dụng phương pháp này để cải thiện khả năng phục vụ của đường cao tốc Illinos, tuy nhiên các kết quả nghiên cứu này không được ông công bố. Mối tương quan giữa cấp phối cốt liệu và các đặc trưng về thể tích của hỗn hợp BTN được công bố trong các nghiên cứu của Vavrik.
Hiện nay phương pháp Bailey được sử dụng trong các chương trình nghiên cứu trong phòng ở Dubai, các tiểu vương quốc Ả Rập nhằm cải thiện khả năng kháng lún của hỗn hợp bê tông nhựa. Các phòng thí nghiệm hiện trường đã được đặt ở Pháp, Canada và nhiều bang ở Mỹ. Các kết quả nghiên cứu trong phòng và thực nghiệm đã được công bố và sử dụng rộng rãi.[8] Phương pháp thiết kế Bailey xem xét đến khả năng đầm chặt của hỗn hợp bê tông nhựa khi chọn tỉ lệ giữa các thành phần hạt để tạo nên cấp phối. Các hệ số trong phương pháp có liên quan chặt chẽ đến độ rỗng cốt liệu VMA, độ rỗng dư Va khả năng đầm nén của cấp phối cốt liệu.
Để đảm bảo hỗn hợp BTN có hàm lượng nhựa vừa đủ, VMA được thay đổi bằng cách điểu chình lượng cốt liệu thô và cốt liệu mịn. Với phương thức này, hỗn hỗn hợp bê tông nhựa có được bộ khung chịu lực cứng để tạo nên độ ổn định và VMA vừa đủ, qua đó tạo nên hỗn hợp có độ bền cao.2 Các nguyên tắc của phƣơng pháp Bailey Phương pháp Bailey là một phương pháp tìm ra một tỉ lệ giữa các loại cốt liệu trộn hợp lý, điều đó tạo ra sự cài móc giữa các hạt cốt liệu tạo nên xương sống của cấu trúc cốt liệu và cấp phối liên tục được cân bằng đến khi hoàn tất. Phương pháp Bailey cung cấp một bộ các công cụ cho phép đánh giá mức độ trộn đều của cốt liệu. Các công cụ này đưa ra một cách nhìn rõ hơn về mối quan hệ giữa cấp phối cốt 9 liệu và độ rỗng.
Phương pháp Bailey cung cấp cho người thi công các công cụ để triển khai, đánh giá và điều chỉnh cốt liệu khi trộn. Quy trình này giúp đảm bảo sự cài móc giữa các hạt cốt liệu và hỗn hợp BTN được đầm nén chặt, tạo ra sức kháng lại các biến dạng lâu dài, trong khi vẫn duy trì các tính chất về thể tích điều đó tạo ra sức kháng lại các yếu tố tác động từ môi trường.[8] Để phát triển một phương pháp kết hợp cốt liệu để có được sự cài móc tốt nhất giữa các viên cốt liệu và tạo nên các đặc tính thể tích tốt hơn, đều cần thiết là phải hiểu được một số nhân tố chi phối và sự ảnh hưởng nó đến công tác thiết kế và khả năng làm việc của các hỗn hợp cốt liệu. Nội dung cơ bản của phương pháp này là: sự phân biệt giữa cốt liệu thô và cốt liệu mịn, và sự kết hợp cốt liệu theo thể tích để đảm bảo mức độ gài móc của các hạt cốt liệu.[9] Theo định nghĩa truyền thống, cốt liệu thô là các hạt cốt liệu giữ lại trên sàng 4.75 mm và cốt liệu mịn là các hạt cốt liệu lọt qua sàng 4. Theo phương pháp Bailey, cốt liệu thô là các hạt cốt liệu lớn tạo ra lỗ rỗng và cốt liệu mịn là các hạt cốt liệu lấp kín những lỗ rỗng do cốt liệu thô tạo nên.
Trong phương pháp Bailey để phân định cốt liệu thô và cốt liệu mịn dùng sàng cấp I PCS (Primary Control Sieve).1 Các cỡ sàng cấp I PCS theo các cỡ hạt NMAS[8] NMAS (mm) NMPS*0.18 Sàng cấp I PCS được tính toán dựa vào cỡ hạt lớn nhất danh định NMAS : PCS = 0.1) 10 Tùy theo các cỡ hạt lớn nhất danh định mà có các cỡ sàng PCS khác nhau được thể hiện ở Bảng 2. Phương pháp Bailey sử dụng hai nguyên tắc làm cơ sở cho mối quan hệ giữa cấp phối cốt liệu và các đặc trưng về thể tích của hỗn hợp bê tông nhựa: đầm nén cốt liệu và sự phân định cốt liệu thô, cốt liệu mịn. Để đánh giá về chất lượng của hỗn hợp cốt liệu tiến hành phối trộn cốt liệu theo thể tích và phân tích các mẫu trộn thông qua các chỉ số Bailey.[8] Các hạt cốt liệu không thể tự sắp xếp lèn chặt vào nhau để lấp đầy các lỗ rỗng trong hỗn hợp.