CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tính điều khiển và an toàn giao thông 1. Tính điều khiển của ô tô Tính điều khiển của ô tô được hiểu là chuyển vị đúng của ô tô theo ý muốn của lái xe (điều khiển theo phương dọc và điều khiển quay vòng).
Mô hình khảo sát tổng quát của ô tô là mô hình “Ô tô – Môi trường – Người lái” (hình 1. Mô hình hệ thống điều khiển của ô tô Do các yếu tố của môi trường luôn luôn thay đổi, dẫn tới thay đổi mối tương quan chuyển động của ô tô trên đường. Người lái luôn có tác động điều chỉnh để có thể thu được các chuyển vị phù hợp. Người lái tác động điều khiển thông qua hệ thống cơ học biến dạng của ô tô và mối tương quan của các yếu tố môi trường, ô tô sẽ có các chuyển vị tương ứng.
Các chuyển vị này được phản hồi vào người lái và người lái lại tác động vào ô tô để tạo nên các chuyển vị tiếp theo. Các yếu tố môi trường có thể là lực cản gió, mấp mô của mặt đường. Việc khảo sát hệ thống kín như trên là cần thiết, nhưng quá phức tạp. Để đánh giá hệ thống kín này ta đánh giá hệ thống hở (không có mối liến hệ ngược).
Thông qua hệ thống hở có thể xác định được các phản ứng của ô tô khi có các yếu tố điều khiển. Các chuyển vị trong hệ thống hở được mô tả qua các quy luật cho phép đánh 13 Luan van giá sự ổn định của hệ thống và làm cơ sở cho việc tính toán, thiết kế các hệ thống tự động điều khiển trên ô tô. Liên quan tới tính điều khiển là tính ổn định của hệ thống. Một hệ thống được gọi là ổn định nếu quá trình quá độ tắt dần theo thời gian.
Hệ thống không ổn định nếu quá trình quá độ tăng dần theo thời gian. Hệ thống ở biên độ ổn định nếu quá trình quá độ không đổi hoặc dao động không tắt dần. Khi phân tích ổn định quỹ đạo chuyển động của ô tô ta cần xem xét ô tô là một hệ thống động lực học với các tác động đầu vào như: góc quay vành lái, cản gió, mấp mô mặt đường… và sự ổn định của các thông số đầu ra. Do đó ổn định hướng chuyển động của ô tô là một đặc tính của ô tô giữ được hướng chuyển động theo góc quay vành lái khi chịu tác động của các lực và mô men ngoại cảnh.
An toàn giao thông và quỹ đạo chuyển động 1. Khái quát về an toàn chuyển động An toàn chuyển động là một trong những vấn đề đang được rất nhiều các nhà khoa học nghiên cứu hiện nay. An toàn chuyển động có thể được chia thành hai loại là an toàn bị động và chủ động. An toàn bị động đề cập đến chức năng giúp giảm thiểu mức độ nghiêm trọng của tai nạn như dây an toàn, túi khí (SRS)….
An toàn chủ động có thể được giải quyết ở hệ thống lái hoặc hệ thống phanh, nó giúp cho ô tô luôn đảm bảo được quỹ đạo chuyển động như mong muốn. Trong nội dung của luận văn tác giả sẽ nghiên cứu ổn định quỹ đạo chuyển động đối với ô tô có hệ thống lái 4 bánh dẫn hướng. Sự chuyển động của ô tô trên đường đòi hỏi phải thực hiện theo quỹ đạo phức tạp, người lái luôn luôn điều chỉnh góc quay vành lái. Khi nâng cao tốc độ chuyển động cần thiết phải đảm bảo mối tương quan giữa quỹ đạo chuyển động và góc quay vành lái.
Trong nhiều trường hợp chỉ một sai lầm nhỏ khi điều khiển sẽ dẫn tới mất quỹ đạo chuyển động, gây mất an toàn giao thông. Chẳng hạn như khi đi trên đường vòng ở tốc độ cao, gặp chướng ngại vật, phanh xe quá ngặt dẫn đến bó lết bánh xe, làm mất khả năng điều khiển hoặc gia tốc hướng tâm tăng dẫn đến trượt bên các bánh xe và lật đổ. 14 Luan van Tai nạn giao thông do nhiều nguyên nhân gây ra. Trong mô hình “Ô tô – môi trường – người lái” có thể chỉ ra các nhóm nguyên nhân: - Đối với người lái: Trình độ lái xe thấp, ít kinh nghiệm, trạng thái phản ứng chậm, trạng thái buồn ngủ, mất tập trung.
Yếu tố này thường được cả cộng đồng chăm lo thông qua các thể chế pháp lý, giáo dục xã hội… - Đối với môi trường: Chất lượng đường xấu, không đảm bảo tiêu chuẩn đường bộ, thiếu hệ thống thông tin, cảnh báo, tầm quan sát hạn chế. Điều kiện thời tiết không thuận lợi (mưa gió, đường trơn trượt)… - Đối với ô tô: Các thông số kết cấu không hợp lý. Tình trạng kỹ thuật không đảm bảo, đặc biệt ở hệ thống phanh, hệ thống lái. Để giảm thiểu nguyên nhân này cần áp dụng các tiêu chuẩn thiết kế xe, tiêu chuẩn về kiểm định chất lượng xe đang lưu hành và xuất xưởng.
Sự liên quan của quỹ đạo chuyển động tới an toàn chuyển động là một trong các nguyên nhân nằm trong nhóm nguyên nhân do phương tiện gây ra. Tính ổn định hướng chuyển động của ô tô là yếu tố ảnh hưởng lớn đến quỹ đạo chuyển động của xe, nguyên nhân chính gây ra tai nạn giao thông. Do đó kết cấu của ô tô, của hệ thống điều khiển chuyển động cần được hoàn thiện để giảm thiểu tai nạn có nguyên nhân do yếu tố liên quan đến kỹ thuật phương tiện gây ra. Việc nghiên cứu, khảo sát ảnh hưởng của các yếu tố kỹ thuật đến ổn định chuyển động của ô tô là cần thiết để đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao tính ổn định hướng chuyển động của ô tô.
Bánh xe dẫn hướng Việc bố trí các bánh xe dẫn hướng liên quan trực tiếp tới tính điều khiển, ổn định chuyển động của ô tô. Các yêu cầu chính của các góc đặt bánh xe dẫn hướng là điều khiển chuyển động nhẹ nhàng, chính xác, đảm bảo ổn định khi đi thẳng cũng như khi quay vòng. Trong thực tế, bánh xe dẫn hướng được bố trí với các góc đặt bánh xe bao gồm: góc nghiêng ngang của bánh xe (camber), góc nghiêng dọc của trụ đứng (caster), góc nghiêng ngang của trụ đứng (kingpin), hình 1. 15 Luan van Hình 1.
Các góc đặt bánh xe Góc nghiêng ngang của bánh xe (camber) có tác dụng giảm nhẹ lực tác dụng lên vành lái, tăng khả năng bám của bánh xe với mặt đường. Góc nghiêng dọc của trụ đứng (caster) giúp xe chạy ổn định trên đường thẳng và ổn định khi xe quay vòng. Góc nghiêng của trụ đứng trong mặt phẳng dọc của xe (kingpin) có tác dụng giúp bánh xe trở về quỹ đạo chuyển động thẳng sau khi quay vòng. Các giải pháp ổn định hướng chuyển động trên ô tô 1.
Hệ thống lái tích cực Hệ thống lái tích cực (Active steering system) là hệ thống lái hiện đại, nó kiểm soát góc đánh lái của các bánh xe cầu trước một cách chính xác theo yêu cầu của lái xe. Đây là hệ thống lái mới trên các xe hiện đại, nó là sự kết hợp giữa hệ thống lái điều khiển cơ khí thông thường và điều khiển điện tử. Trong hệ thống lái tích cực (hình 1.3) bao gồm bộ trợ lực thủy lực như hệ thống lái truyền thống. Mô tơ điện đóng vai trò điều khiển.
Việc điều khiển góc đánh lái bánh xe trước được thực hiện bởi bộ điều khiển (5) thông qua tín hiệu từ các cảm biến góc quay mô tơ điện và góc quay bánh răng bộ phận chấp hành (4). Bộ điều khiển lái tích cực có thể được kết nối với hệ thống cân bằng điện tử ESC. 16 Luan van Hình 1. Cấu tạo hệ thống lái tích cực 1-Cơ cấu lái; 2-Cụm van xoay; 3-Động cơ kỹ thuật số; 4-Bộ chấp hành cụm bánh răng hành tinh; 5-Bộ điều khiển; 6-Cảm biến góc quay mô tơ; 7-Khóa điện tử; 8-Cảm biến góc quay bánh răng; 9-Bơm trợ lực lái; 10-Bình dầu trợ lực; 11-Đường ống dầu; 12-Đường kết nối hệ thống.
Khác với hệ thống lái thông thường, hệ thống lái tích cực có tỉ số truyền thay đổi theo các trạng thái chuyển động của ô tô thông qua mô tơ điều khiển. Ngoài mô tơ điều khiển còn có mô tơ tạo áp lực lên vành lái trong các trường hợp xe chuyển động và giữ cho xe chuyển động ổn định trên đường dưới tác dụng của các tác động từ mặt đường. Bộ điều khiển hệ thống lái nhận tín hiệu từ các cảm biến, từ đó xác lập các trạng thái điều khiển (hình 1. 17 Luan van Hình 1.
Sơ đồ hoạt động hệ thống lái tích cực FZR - Bộ điều khiển mờ; AFS - hệ thống lái chủ động; ESC - Hệ thống cân bằng điện tử; EML1 - Bộ điều khiển tín hiệu đầu ra điện tử của hệ thống lái chủ động; DME1- Bộ điều khiển điện tử động cơ kỹ thuật số của hệ thống lái chủ động; EML2 - Bộ điều khiển tín hiệu đầu ra điện tử của hệ thống cân bằng điện tử; DME2 - Bộ điều khiển điện tử động cơ kỹ thuật số của hệ thống cân bằng điện tử. Quá trình truyền dữ liệu của AFS thông qua mạng nội bộ (hình 1. Bộ điều khiển AFS được kết nối với bộ điều khiển cân bằng điện tử ESC và DME, EML, ECT của hộp số tự động bằng mạng nội bộ CAN. Cảm biến góc đánh lái được kết nối với mạng nội bộ CAN.
Khi AFS truyền tín hiệu điều khiển đến cơ cấu chấp hành của bộ điều khiển thì tín hiệu điều khiển của bộ chấp hành nào thì cơ cấu chấp hành đó giải mã để điều khiển. Do hệ thống lái có tỷ số truyền thay đổi nên tạo điều kiện thuận lợi cho các trạng thái chuyển động của ô tô. Khi xe chạy với tốc độ chậm trong các bến bãi, hệ thống lái thông thường sẽ có phản ứng rất chậm với sự thay đổi của vành lái. Vì vậy, để nâng cao mức độ phản ứng khi thay đổi vành lái thì hệ thống lái tự động điều chỉnh tăng tỷ số truyền từ vành lái đến bánh xe dẫn hướng để xe phản ứng nhạy cảm hơn với vành lái 18 Luan van giúp lái xe vào ra các vị trí chật hẹp tốt hơn.
Việc này được thực hiện bằng cách cho động cơ quay cùng chiều với vành lái. Khi xe chạy với tốc độ cao chỉ cần một sự thay đổi đột ngột góc lái và độ lớn của góc lái làm xe phản ứng rất nhanh có thể gây nguy hiểm và mất an toàn vì vậy chúng ta phải giảm mức độ phản ứng của bánh xe dẫn hướng với vành lái. Điều này được thực hiện bằng cách giảm tỷ số truyền của hệ thống bằng cách điều khiển động cơ quay ngược chiều với chiều chuyển động của vô lăng.