MỞ ĐẦU Cùng với sự phát triển của nền kinh tế, mức đô thị hóa nhanh đặc biệt ở các nước đang phát triển trên thế giới là những thay đổi về lối sống, chế độ dinh dưỡng, ô nhiễm môi trường dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của các căn bệnh mang tính xã hội. Bên cạnh các căn bệnh đang là mối đe dọa sức khỏe của nhân loại như bệnh tim mạch, ung thư thì đái tháo đường là một trong những bệnh hiểm nghèo với tỷ lệ tử vong chiếm vị trí thứ ba chỉ sau hai căn bệnh kể trên. Chính vì vậy Tổ chức Y tế Thế giới đã khuyến cáo đái tháo đường là bệnh đặc biệt nghiêm trọng đe dọa đến sức khỏe và sự phát triển kinh tế ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Theo thống kê của Hiệp hội đái tháo đường quốc tế, năm 2010 có khoảng 285 triệu người mắc bệnh trong đó đái tháo đường type 2 chiếm khoảng 85 - 95% tổng số bệnh nhân đái tháo đường trên thế giới.
Ước tính đến năm 2030 con số đó tăng lên 438 triệu người. Việt Nam là một quốc gia đang phát triển và cũng là một trong những quốc gia có tỉ lệ gia tăng bệnh đái tháo đường nhanh nhất thế giới. Tỷ lệ dân số mắc đái tháo đường hiện tại tăng lên hơn 6% so với chỉ có 2,7% trong năm 2001. Theo Tổng hội Y học Việt Nam dự báo sẽ có từ 7 - 8 triệu bệnh nhân đái tháo đường vào năm 2025, hơn 90% trong số đó thuộc type 2.
Bệnh đái tháo đường là bệnh mãn tính với nhiều biến chứng nguy hiểm như bệnh tim mạch vành, suy thận, tai biến mạch máu não, mù mắt, liệt dương, hoại thư… Vì vậy phòng và điều trị bệnh đái tháo đường là một vấn đề bức thiết. Ngày nay, y học đã tìm ra nhiều hướng điều trị căn bệnh mãn tính này như tiêm insulin, dùng các loại thuốc nhóm sulphonylureas, glinides, metformin, thiazolidinedione và hoạt chất kìm hãm α – glucosidase (AGIs). Trên thị trường có một số dược phẩm có bản chất là các hoạt chất kìm hãm α-glucosidase như acarbose, miglitol và voglibose được sử dụng rộng rãi. 1-deoxynojirimycin (DNJ) là hoạt chất kìm hãm α – glucosidase có công thức cấu tạo tương tự miglitol.
Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu sản xuất AGIs nói chung và DNJ nói riêng từ nguồn đậu tương lên men. Tuy nhiên, những nghiên cứu về tổng 1 hợp AGIs từ đậu đen vẫn còn hạn chế và là hướng đi mới ở Việt Nam. Trong khi đó, các chế phẩm có chất kìm hãm α – glucosidase dùng cho bệnh nhân đái tháo đường ở nước ta đều là nhập khẩu với giá thành cao. Xuất phát từ thực tế trên, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu điều kiện lên men và tách chiết hoạt chất kìm hãm α – glucosidase từ dịch đậu đen lên men bởi vi khuẩn Bacillus subtilis M1”.
Đề tài thực hiện với mục đích và nội dung sau: 1. Mục đích của đề tài: - Tìm điều kiện thích hợp cho quá trình tạo AGIs bằng quá trình lên men đậu đen bởi Bacillus subtilis. - Tìm điều kiện tách chiết và thu hồi hoạt chất kìm hãm α-glucosidase từ đậu đen lên men. Nội dung của đề tài, các vấn đề cần giải quyết: - Nghiên cứu điều kiện (ảnh hưởng của nhiệt độ, thời gian, các chất bổ sung) nâng cao sinh tổng hợp hoạt chất kìm hãm α-glucosidase khi lên men đậu đen bằng vi khuẩn Bacillus subtilis M1.
- Nghiên cứu lựa chọn điều kiện tách chiết, thu hồi và tạo chế phẩm chứa hoạt chất kìm hãm α-glucosidase từ đậu đen len men bởi vi khuẩn Bacillus subtilis M1. Tổng quan về bệnh đái tháo đường (tiểu đường) ở người 1. Giới thiệu về bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), “Đái tháo đường là một hội chứng có đặc tính biểu hiện bằng sự tăng đường máu do hậu quả của việc mất hoàn toàn insulin hoặc là do có liên quan đến sự suy yếu trong bài tiết hoặc hoạt động của insulin" [2]. Ở bệnh nhân ĐTĐ quá trình vận chuyển glucose không hoạt động bình thường, tụy tạng không hoặc sản xuất thiếu hụt insulin hay cơ thể không điều khiển việc sử dụng insulin để đưa glucose vào tế bào.
Do đó glucose tồn tại trong máu làm chỉ số đường huyết tăng cao hơn mức bình thường, khi đó dẫn đến bệnh ĐTĐ. Khi đường huyết tăng cao vượt qua khả năng lọc cân bằng của thận, kết quả là đường sẽ theo nước tiểu ra ngoài. Phân loại bệnh đái tháo đường Đái tháo đường type 1 Đái tháo đường type 1 chiếm tỷ lệ khoảng 5 - 10% tổng số bệnh nhân ĐTĐ thế giới. Nguyên nhân do tế bào beta bị phá hủy, gây nên sự thiếu hụt insulin tuyệt đối cho cơ thể (nồng độ insulin giảm thấp hoặc mất hoàn toàn).
Theo một số nghiên cứu, các kháng nguyên bạch cầu người (HLA) chắc chắn có mối liên quan chặt chẽ với sự phát triển của ĐTĐ type 1 [10]. ĐTĐ type 1 phụ thuộc nhiều vào yếu tố gen và thường được phát hiện trước 40 tuổi. Nhiều bệnh nhân, đặc biệt là trẻ em và trẻ vị thành niên biểu hiện nhiễm toan ceton là triệu chứng đầu tiên của bệnh [23]. Đái tháo đường type 2 Đái tháo đường type 2 chiếm tỷ lệ khoảng 90 - 95% ĐTĐ trên thế giới, thường gặp ở người trưởng thành trên 40 tuổi.
Đặc trưng của ĐTĐ type 2 là kháng insulin đi kèm với thiếu hụt tiết insulin tương đối. Đặc điểm lớn nhất trong sinh lý của bệnh ĐTĐ type 2 là có sự tương tác giữa yếu tố gen và yếu tố môi trường trong 3 cơ chế bệnh sinh. Người mắc bệnh ĐTĐ type 2 có thể điều trị bằng cách thay đổi thói quen, kết hợp dùng thuốc để kiểm soát glucose máu, tuy nhiên nếu quá trình này thực hiện không tốt thì bệnh nhân cũng sẽ phải điều trị bằng cách dùng insulin. Đái tháo đường thai nghén (ĐTĐTN) Đái tháo đường thai nghén xảy ra ở phụ nữ có thai, có glucose máu tăng, gặp khi có thai lần đầu.
Sự tiến triển của ĐTĐTN sau sinh theo 3 khả năng: bị đái tháo đường, giảm dung nạp glucose và bình thường [4]. Ngoài ra còn một số thể hiếm gặp khác liên quan đến một số bệnh, sử dụng thuốc hoặc tiếp xúc với hoá chất. Biến chứng của bệnh đái tháo đường Biến chứng cấp tính Biến chứng cấp tính thường là hậu quả của chẩn đoán muộn, nhiễm khuẩn cấp tính hoặc điều trị không thích hợp. Trong đó hôn mê nhiễm toan ceton và hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là hai biến chứng nguy hiểm.
Nhiễm toan ceton là biểu hiện nặng của rối loạn chuyển hóa gluxit do thiếu insulin gây tăng glucose máu, tăng phân hủy lipid, tăng sinh thể ceton gây toan hóa tổ chức với tỷ lệ tử vong cao từ 5 - 10%. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu là tình trạng rối loạn chuyển hóa glucose nặng, đường huyết tăng cao. Hôn mê tăng áp lực thẩm thấu chiếm 5 - 10%. Ở bệnh nhân ĐTĐ type 2 nhiều tuổi, tỷ lệ tử vong từ 30 - 50% [10].
Biến chứng mạn tính Biến chứng tim - mạch: các nghiên cứu cho thấy nồng độ glucose máu cao làm tăng nguy cơ mắc các bệnh mạch vành, xơ vữa động mạch, tăng huyết áp và các biến chứng tim mạch khác. Người ĐTĐ có bệnh tim mạch là 45%, nguy cơ mắc bệnh tim mạch gấp 2 - 4 lần so với người bình thường. Biến chứng thận: bệnh thận do ĐTĐ khởi phát bằng tăng protein niệu, sau đó khi chức năng thận giảm xuống, ure và creatinin sẽ tích tụ trong máu. Bệnh thận do ĐTĐ là nguyên nhân thường gặp nhất gây suy thận giai đoạn cuối.
4 Bệnh lý mắt: đục thủy tinh thể và bệnh lý võng mạc là những bệnh lý về mắt do biến chứng của bệnh ĐTĐ hay gặp nhất. Trong đó đục thuỷ tinh thể là tổn thương thường gặp và tương quan với thời gian mắc bệnh cũng như mức độ tăng đường huyết kéo dài. Bệnh lý võng mạc ĐTĐ biểu hiện nhẹ bằng tăng tính thấm mao mạch, ở giai đoạn muộn hơn bệnh tiến triển đến tắc mạch máu, tăng sinh mạch máu với thành mạch yếu dễ xuất huyết gây mù loà. Bệnh lý thần kinh: biến chứng thần kinh do ĐTĐ được chia thành các hội chứng lớn như viêm đa dây thần kinh, bệnh đơn dây thần kinh, bệnh thần kinh thực vật, bệnh thần kinh vận động gốc chi.
Bệnh lý bàn chân: là sự phối hợp của tổn thương mạch máu, thần kinh ngoại vi và cơ địa dễ nhiễm khuẩn do glucose máu tăng cao. Tỷ lệ cắt cụt chân của người bị biến chứng bàn chân ĐTĐ của Việt Nam cũng khá cao, khoảng 40% tổng số người có bệnh lý bàn chân ĐTĐ [9]. Phương pháp điều trị bệnh đái tháo đường Đái tháo đường là căn bệnh mạn tính, vì vậy quá trình điều trị của người bệnh nhằm mục đích ổn định đường huyết ở mức bình thường và hạn chế đến mức thấp nhất các biến chứng. Phương pháp điều trị phụ thuộc vào dạng thức bệnh mắc phải.
Đái tháo đường type 1: ĐTĐ type 1 còn gọi là ĐTĐ phụ thuộc insulin, vì vậy với bệnh nhân mắc bệnh ĐTĐ type 1 thì việc tiêm insulin là giải pháp bắt buộc để duy trì chỉ số đường huyết ở mức cho phép và hạn chế các biến chứng đặc biệt là nhiễm cetone máu. Việc áp dụng liều lượng insulin cần thiết phụ thuộc vào tình trạng bệnh cũng như chế độ dinh dưỡng và vân động của mỗi bệnh nhân. Đái tháo đường type 2: quá trình điều trị của bệnh nhân ĐTĐ type 2 chủ yếu dựa vào các loại thuốc hạ đường huyết và kết hợp tiêm bổ sung insulin trong một số trường hợp cần thiết như biến chứng, hôn mê hay thời kỳ bệnh nặng. Hiện nay có 6 nhóm thuốc giúp cải thiện quá trình chuyển hóa glucose cho bệnh nhân ĐTĐ type 2 gồm: sulphonylureas, glinides, metformin, thiazolidinedione, chất kìm hãm 5 dipeptidyl peptidase IV và hoạt chất kìm hãm α – glucosidase.
Việc lựa chọn sử dụng thuốc có chứa loại hoạt chất nào tùy thuộc vào bản chất của quá trình rối loạn hấp thu glucose theo hướng kháng insulin hay suy giảm bài tiết insulin. - Sulphonylureas: là hoạt chất trực tiếp kích thích tiết insulin của các tế bào beta. Sulphonylureas giúp giảm chỉ số đường huyết HbA1c từ 1-2% và giảm sự tiến triển của các biến chứng vi mạch đến 25%. Tuy nhiên, việc sử dụng sulphonylureas thường dẫn đến các tác dụng phụ như tăng cân và có thể gây hạ đường huyết đặc biệt là ở người cao tuổi, bệnh nhân suy thận hoặc bệnh gan.
Do vậy sulphonylureas thường được sử dụng ở các thế hệ thuốc thứ 2 hoặc thứ 3 [41].