MỞ ĐẦU TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Các công trình xây dựng lớn hiện nay thường gắn liền với việc đào sâu trong đất như tầng hầm cho các tòa nhà hay hố móng và các công trình thủy lợi. Do khu vực thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Bằng sông Cửu Long phổ biến lớp đất yếu trên bề mặt dưới dạng sét mềm bão hòa nước nên trong công tác đào sâu trong đất cần thiết bố trí các biện pháp chống giữ. Việc tính toán chuyển vị ngang của tường chắn gặp nhiều sai sót bởi vì các hạn chế về hiểu biết ứng xử của đất đá và đưa vào các giả thiết tính toán gần đúng. Vì vậy cần cần thiết quan trắc hiện trường để đánh giá thực tế của biện pháp thi công là cần thiết.
Để có được kết quả quan trắc đúng với thực tế cần hiểu biết những sai số trong phương pháp đo và hiệu chỉnh lại kết quả đó. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI Thiết bị đo đạc quan trắc chuyển vị ngang trong nền đất được sử dụng hiện nay thường là Inclinometer. Trong thực tế, việc đo chuyển vị ngang thường được sử dụng để đánh giá mức độ chuyển vị ngang của nền đất yếu dưới công trình đắp trong xử lí nền đất bằng phương pháp bấc thấm kết hợp gia tải trước. Trong trường hợp này, chuyển vị trong nền đất yếu thường rất lớn và lớn hơn đáng kể so với trong lớp đất tốt bên dưới.
Do đó, trong đo đạc, ống được hạ vào đất cho đến độ sâu có sự xuất hiện lớp đất tốt. Điểm cuối của ống đo trong lớp đất tốt được xem là điểm chuẩn và được lấy làm mốc và xem chuyển vị ngang và đứng bằng không. Kết quả đo đạc chuyển vị ngang theo độ sâu chính là giá trị tương đối so với điểm chuẩn này. Trong trường hợp quan trắc chuyển vị ngang của tường vây, nguyên tắc sử dụng đánh giá chuyển vị ngang được sử dụng cũng tương tự như trường hợp nền đất yếu xử lí gia tải trước.
Trong một số trường hợp do tường vây không xuyên qua hết lớp đất yếu hoặc độ sâu đào xấp xỉ chiều dài tường vây thì chuyển vị chân tường 2 vây có thể xảy ra và kết quả chuyển vị ngang của tường vây từ đo đạc có thể không phù hợp với thực tế. Để đánh giá đúng đắn quy luật và giá trị chuyển vị ngang của tường vây trong trường hợp này ta cần thiết phải hiệu chỉnh kết quả đo đạc. PHẠM VI NGHIÊN CỨU Phân tích hiệu chỉnh chuyển vị ngang tường vây bằng cừ thép khi chân tường vây nằm trong lớp đất yếu. NHIỆM VỤ CỦA ĐỀ TÀI Hiệu chỉnh kết quả đo đạc chuyển vị ngang căn cứ vào mốc đo đỉnh tường vây.
Hiệu chỉnh kết quả đo đạc chuyển vị ngang dựa trên giả thiết biến dạng thanh giằng không đáng kể. Mô phỏng đánh giá chuyển vị ngang của tường vây bằng phần mềm Plaxis 2D phục vụ phân tích và đánh giá mức độ tin cậy của phương pháp hiệu chỉnh đề nghị. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU - Kết quả thực tiễn từ hiện trường - Tổng hợp hiệu chỉnh bằng hình học - Mô phỏng bằng phần mềm - So sánh đưa ra kết luận cuối cùng Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN Việc phân tích kết quả quả đo đo chuyển vị ngang tường chắn bằng Inclinometter để tìm ra các sai khác với kết quả thực sự, từ đó hiệu chỉnh kết quả đo là rất cần thiết. Bởi vì đối với các các biện pháp hố đào sâu ở các vùng đất yếu chuyển vị ngang tường chắn sẽ rất lớn và gây nguy hiểm tới các công trình lân cận 3 cũng như hố đào.
Tóm lại, việc phân tích hiệu chỉnh kết quả đo chuyển vị ngang của tường chắn trong hố đào sâu là quan trọng. TỔNG QUAN HỐ ĐÀO SÂU VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG LÊN CHUYỂN VỊ NGANG TƯỜNG VÂY HỐ ĐÀO 1. ĐẶC ĐIỂM HỐ ĐÀO SÂU Hố đào sâu là loại công trình đặc biệt, việc thiết kế, thi công các kết cấu chắn giữ hố đào sâu rất đa dạng và luôn tiềm ẩn nhiều sự cố công trình vì nó phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố. Kết quả khảo sát địa chất, mô hình tính toán, loại kết cấu chắn giữ, phương pháp thiết kế, phương pháp thi công, năng lực tổ chức thi công, điều kiện công trường.
ảnh hưởng đến chất lượng công trình hố đào sâu. Điều kiện địa chất của nền đất biến đổi trong phạm vi khá rộng, ẩn giấu nhiều rủi ro, đặc biệt là trong điều kiện đất yếu, mực nước ngầm cao và các điều kiện hiện trường phức tạp dễ sinh ra trượt lở đất, mất ổn định hố đào, chuyển dịch tường chắn, trồi hố móng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến các công trình xây dựng, các đường ống, công trình ngầm ở xung quanh. Do đó, khi thiết kế thi công các công trình loại này, cần phải phân tích lựa chọn tối ưu hóa và có hệ thống cho hàng loạt các công việc như công tác khảo sát phục vụ thiết kế, xác định mô hình tính toán phù hợp, giải pháp thi công xây dựng, giải pháp quan trắc đo đạc chuyển vị và biến dạng kết cấu chắn giữ cũng như quan trắc các công trình lân cận trong suốt quá trình thi công. Thi công hố đào có thể coi là một bài toán dỡ tải đối với nền đất.
Việc dỡ tải này làm thay đổi trạng thái ứng suất biến dạng trong nền. Sự cân bằng ban đầu bị thay đổi, trạng thái ứng suất thay đổi làm xuất hiện nguy cơ mất ổn định, trước hết là thành hố và sau đó là đáy hố và đất xung quanh. Khi nghiên cứu sự ổn định của hố đào và các biện pháp bảo vệ nó, Terzaghi (1943) đánh giá chiều sâu hố đào là yếu tố quan trọng nhất và đưa ra tiêu chí: - Hồ đào nông là hố có chiều sâu nhỏ hơn chiều rộng của hố; - Hố đào sâu là hố có chiều sâu lớn hơn chiều rộng của hố. Nhưng sau đó năm 1967, Teraghi và Peck, và năm 1969 Peck và các cộng sự đề nghị là: 5 - Hố đào nông là hố có chiều sâu đào nhỏ hơn 6 m; - Hố đào sâu là hố có chiều sâu đào lớn hơn 6 m.
Trong địa kỹ thuật hiện nay, khi có nhiều công trình hầm được xây dựng chen trong các khu đô thị việc đảm bảo các ảnh hưởng thấp nhất của hố đến các công trình xung quanh khiến không còn khái niệm hố nông hay hố sâu nữa mà chỉ còn một khái niệm duy nhất là thi công hố đào. Đào hố móng cho các công trình có tầng hầm trong điều kiện đất yếu, mực nước ngầm cao và nhiều điều kiện thường phức tạp khác, có thể gây mất ổn định hố đào, phình trồi đáy hố đào, kết cấu chắn giữ bị hư hỏng nặng…. làm hư hại hố móng, ảnh hưởng nghiêm trọng các công trình ngầm và đường ống xung quanh. Vì vậy, bài toán ổn định hố đào sâu, đòi hỏi người kỹ sư thiết kế phải có kinh nghiệm trong việc phân tích và lựa chọn giải pháp tường chắn đủ cứng để chống lại sự phá hoại kết cấu và chuyển vị ngang quá mức.
CÁC YẾU TỐ ĐỊA KỸ THUẬT ẢNH HƯỞNG ĐẾN CÔNG TRÌNH HỐ ĐÀO SÂU Tùy theo các vùng đất nền khác nhau mà các yếu tố ảnh hưởng đến biến dạng của đất xung quanh hố đào sâu sẽ không giống nhau. Có thể kể đến: Đặc tính của đất: Chuyển vị ngang của tường chắn phụ thuộc vào độ bền của đất, chuyển vị ngang của tường chắn, độ lún bề mặt đất sét cứng và đất rời nhỏ hơn so với đất sét mềm yếu. Ứng suất ngang ban đầu: khi đào đất với giá trị hệ số áp lực ngang ban đầu của đất K0 lớn, chuyển dịch của đất và tường lớn, thậm chí cả khi đào nông. Kích thước hố móng: hình dạng, diện tích mặt bằng, độ sâu hố móng đều có ảnh hưởng tới sự mở rộng và sự phân bố dịch chuyển đất xung quanh và bên dưới đáy hố móng với những điều kiện đất nền nhất định.
Điều kiện nước dưới đất: Sự thay đổi mực nước ngầm ảnh hưởng đến ổn định của tường chắn cùng hệ chống đỡ và độ lún của các công trình xung quanh. 6 Chênh lệch áp lực nước ở phía ngoài và phía trong hố đào có thể gây ra hiện tượng bùng nền, cát chảy… ở đáy hố đào. Ảnh hưởng do sử dụng biện pháp thi công, trình tự và thời gian thi công, tính chất và quy mô của công trình lân cận. Ảnh hưởng của sự thay đổi điều kiện ứng suất trong đất nền: Khi đào đất, cả ứng suất theo phương đứng và theo phương ngang đều giảm đi và thay đổi sự cân bằng áp lực nước lỗ rỗng trong đất, một trong những hiệu ứng quan trọng nhất của quá trình này là chuyển vị của đất nền ở đáy và xung quanh hố đào.
CÁC HIỆN TƯỢNG XẢY RA KHI THI CÔNG HỐ ĐÀO SÂU Công trình hố đào sâu bao gồm nhiều khâu có quan hệ chặt chẽ với nhau như chắn đất, ngăn nước, hạ mực nước ngầm, đào đất… trong đó, một khâu nào đó thất bại sẽ dẫn đến cả công trình bị đổ vỡ. Việc thi công hố móng ở các hiện trường lân cận như đóng cọc, hạ nước ngầm, đào đất… đều có thể sinh ra những ảnh hưởng hoặc khống chế lẫn nhau, tăng thêm các nhân tố để có thể gây ra sự cố. Một số hiện tượng thường xảy ra với hố đào sâu như sau: - Mất ổn định thành hố đào - Hiện tượng lún bề mặt xung quanh hố đào - Hiện tượng bùng nền đáy hố đào - Nước ngầm tràn vào hố đào Khi đào đất sẽ làm thay đổi trạng thái ứng suất - biến dạng của đất tự nhiên dưới tác dụng trọng lượng bản thân của đất. Đáy hố đào được giải phóng khỏi tải trọng đứng nên sẽ trồi lên phía trên còn áp lực ngang của đất quanh tường chắn sẽ gây ra chuyển vị ngang của tường.
Việc tính toán hố đào hiện nay thường sử dụng các số liệu địa chất với các lộ trình ứng suất nén một trục hoặc ba trục thông thường, các thông số từ các thí nghiệm này chưa mô phỏng sát thực quan hệ ứng suất – biến dạng của vùng đất xung quanh hố đào trong quá trình đào đất. Do đó, 7 kết quả tính toán dự báo còn khác biệt so với quan trắc thực tế ngoài công trường, gây kém an toàn và đặc biệt ảnh hưởng lớn đến chỉ tiêu về kinh tế. PHÂN LOẠI HỐ ĐÀO SÂU 1. Phân loại theo phương thức đào a) Đào không chắn giữ - Đào thẳng đứng.