Tổng quan nghiên cứu

Trong quá trình đô thị hóa mạnh mẽ tại các đô thị lớn, nhu cầu xây dựng tầng hầm sâu phục vụ giao thông và thương mại ngày càng gia tăng. Tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng bằng sông Cửu Long, địa tầng mặt chủ yếu là lớp sét mềm bão hòa nước có chiều dày dao động từ 4 m đến 16 m. Khi thực hiện hố đào sâu trên 6 m, sự thay đổi trạng thái ứng suất dỡ tải làm phát sinh biến dạng hông rất lớn của nền đất và kết cấu chắn giữ. Quan trắc hiện trường bằng thiết bị Inclinometer là phương pháp phổ biến nhất để kiểm soát chuyển vị ngang của tường vây nhằm đảm bảo an toàn cho công trình và các cấu trúc lân cận.

Tuy nhiên, quy trình đo đạc Inclinometer tiêu chuẩn luôn giả định chân ống đo là điểm chuẩn cố định không chuyển vị. Trong điều kiện địa chất đất yếu, khi chân tường vây không ngàm đủ sâu vào tầng đất tốt, hiện tượng dịch chuyển chân tường (đá chân cừ) xảy ra phổ biến, khiến kết quả đo đạc thô bị sai lệch tịnh tiến từ 15% đến 45% so với thực tế. Nghiên cứu này tập trung giải quyết vấn đề cốt lõi: xây dựng và kiểm chứng các giải pháp hiệu chỉnh kết quả chuyển vị ngang từ đo đạc Inclinometer khi chân tường vây nằm trong tầng đất yếu.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại dự án The Golden Star (Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh) với quy mô 2 tầng hầm trên diện tích hơn 4.500 m2, sử dụng cừ Larsen SPIV dài từ 16 m đến 18 m kết hợp 2 tầng giằng thép hình. Việc hiệu chỉnh chính xác số liệu quan trắc giúp nâng cao độ tin cậy của công tác đánh giá an toàn, giảm thiểu nguy cơ nứt nẻ công trình lân cận và tối ưu hóa hệ số an toàn trong suốt thời gian thi công 6 tháng của dự án.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết dỡ tải đất nền của Terzaghi và Peck, kết hợp với định luật đàn hồi Hooke áp dụng cho kết cấu chống đỡ. Khi đào đất, ứng suất đứng và ứng suất ngang trong hố đào bị giải phóng, làm thay đổi áp lực nước lỗ rỗng và gây biến dạng trồi đáy hố cũng như đẩy ngang tường chắn. Thiết bị Inclinometer hoạt động dựa trên nguyên lý cảm biến gia tốc đo độ nghiêng của ống vách theo từng khoảng cách đều đặn 0,5 m từ đáy lên đỉnh ống có đường kính trong 52 mm và khả năng chịu tải 320 kg.

Ba khái niệm học thuật then chốt được phát triển trong nghiên cứu gồm:

  1. Chuyển vị chân tường (Toe kick-out): Sự dịch chuyển ngang thực tế của mũi tường cừ vào trong lòng hố đào do thiếu áp lực bị động của nền đất yếu.
  2. Chuyển vị tịnh tiến sai số: Độ lệch giữa đường cong quan trắc giả định chân tường cố định và đường cong chuyển vị thực tế của tường.
  3. Trạng thái làm việc sơ đồ gối tựa: Sự chuyển đổi hành vi cơ học của tường từ dạng dầm công-xôn sang dầm nhiều nhịp liên tục sau khi kích hoạt hệ thanh giằng H350 và H400.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu quan trắc thực nghiệm từ vị trí ống Inclinometer ký hiệu I11 tại dự án The Golden Star, được theo dõi liên tục qua 37 chu kỳ thi công đào đất và lắp dựng hệ chống. Cỡ mẫu nghiên cứu gồm chuỗi số liệu từ 1 trạm quan trắc trọng điểm đại diện cho vùng giáp ranh khu dân cư chịu rủi ro cao, kết hợp đối chiếu với tập dữ liệu từ 18 công trình hố đào sâu có chiều dày lớp đất yếu từ 4 m đến 16 m trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Phương pháp chọn mẫu có chủ đích được áp dụng nhằm tập trung vào các vị trí cừ vây chịu áp lực đất không đối xứng và có nguy cơ đá chân lớn nhất.

Phương pháp phân tích kết hợp giữa hình học giải tích và mô phỏng số phần tử hữu hạn trên phần mềm Plaxis 2D. Lý do lựa chọn Plaxis 2D vì phần mềm tích hợp mô hình đất Hardening Soil phản ánh chính xác quy luật ứng xử phi tuyến, sự phụ thuộc của mô-đun biến dạng vào mức ứng suất và sự khác biệt giữa quá trình gia tải và dỡ tải của đất sét mềm. Toàn bộ quá trình thu thập, xử lý dữ liệu và mô phỏng kiểm chứng được thực hiện trong khung thời gian từ tháng 2 năm 2020 đến tháng 8 năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Quá trình phân tích thực nghiệm và mô phỏng số đã mang lại các phát hiện kỹ thuật quan trọng:

  1. Hiện tượng đá chân cừ diễn ra rõ rệt ngay từ các giai đoạn đào sâu: Tại chu kỳ 37 (khi đào đến cao trình đáy đài móng), chân tường cừ Larsen dài 18 m bị dịch chuyển ngang vào trong hố đào một đoạn từ 8,5 mm đến 12,3 mm thay vì bằng 0 mm như giả định của thiết bị Inclinometer.
  2. Số liệu đo đạc thô đánh giá thấp mức độ nguy hiểm: Giá trị chuyển vị ngang lớn nhất chưa hiệu chỉnh chỉ ghi nhận 21,3 mm. Sau khi thực hiện hiệu chỉnh theo mốc đỉnh cừ, chuyển vị ngang thực tế đạt 32,5 mm, tăng 52,5% so với số đọc ban đầu.
  3. Sự tương đồng cao giữa hai phương pháp đề xuất: Phương pháp hiệu chỉnh dựa trên chuyển vị đỉnh tường đo bằng máy toàn đạc quang học và phương pháp hiệu chỉnh theo biến dạng đàn hồi của hệ thanh giằng trước khi kích hoạt cho kết quả sai lệch dưới 4,8% tại các chu kỳ đào sâu 8, 23 và 37.
  4. Tỷ lệ chuyển vị cực đại trên chiều sâu hố đào sau hiệu chỉnh đạt 0,76%H. Con số này hoàn toàn nằm trong biên độ cảnh báo từ 0,5% đến 1,0%H theo tổng kết từ 530 dự án đất yếu của Moormann, trong khi giá trị thô 0,42%H đã phản ánh sai lệch mức độ an toàn của công trình.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân chính dẫn đến sai lệch lớn trong kết quả quan trắc Inclinometer là do lớp bùn sét yếu tại dự án có chỉ số SPT rất thấp (N dưới 2 búa), không đủ sức kháng cắt bị động để giữ cố định chân cừ khi đáy hố đào hạ sâu đến -7,5 m. Khi giải phóng tải trọng đất, đáy hố phình trồi kéo theo sự xoay và trượt tịnh tiến của toàn bộ thân cừ. Kết quả này tương thích với nghiên cứu của Chang-Yu Ou tại Đài Bắc và quy định của Cơ quan Quản lý Xây dựng Singapore (BCA), trong đó giới hạn chuyển vị cho phép với đất sét dẻo mềm loại B là 1,0%H.

Dữ liệu nghiên cứu được biểu diễn hiệu quả nhất qua biểu đồ quan hệ độ sâu - chuyển vị ngang dạng đường cong phân bố dọc theo chiều dài cừ 18 m, kết hợp bảng tổng hợp ma trận so sánh giữa giá trị thô, giá trị hiệu chỉnh phương án 1 (đỉnh tường), giá trị hiệu chỉnh phương án 2 (điểm giằng) và kết quả phần tử hữu hạn Plaxis 2D qua 4 chu kỳ đào chính. Kết quả đối chiếu khẳng định mô hình mô phỏng Plaxis 2D bám sát đường cong hiệu chỉnh với hệ số tương quan đạt trên 0,95, chứng minh tính tin cậy tuyệt đối của các phương pháp hiệu chỉnh đề xuất.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên kết quả nghiên cứu, các giải pháp kỹ thuật cụ thể được khuyến nghị áp dụng cho các dự án thi công hố đào sâu trong khu vực đô thị:

  1. Thiết lập quy trình hiệu chỉnh kép bắt buộc: Các đơn vị tư vấn quan trắc cần tích hợp mốc đo quang trắc độ chính xác cao tại đỉnh tường vây song song với đo Inclinometer ngay từ chu kỳ đào đầu tiên. Mục tiêu kiểm soát sai số tịnh tiến chân cừ dưới 2,0 mm trong suốt quá trình thi công.
  2. Tăng chiều sâu ngàm tường vây vào tầng đất tốt: Đơn vị thiết kế cần tính toán chiều dài cừ hoặc tường barrette ngàm tối thiểu từ 3 m đến 5 m vào tầng cát chặt hoặc sét cứng có chỉ số SPT lớn hơn 15. Giải pháp này giúp triệt tiêu hiện tượng đá chân cừ, kiểm soát tỷ số chuyển vị ngang cực đại dưới ngưỡng 0,5%H trong giai đoạn lập hồ sơ kỹ thuật kéo dài từ 1 đến 2 tháng trước khi khởi công.
  3. Lắp đặt cảm biến ứng suất giám sát hệ thanh giằng: Nhà thầu thi công cần gắn các đầu đo biến dạng dây rung trên hệ giằng H350 và H400 để theo dõi lực dọc theo tần suất 12 giờ một lần. Việc này giúp xác định chính xác độ co ngắn đàn hồi dưới 3 mm của thanh chống, phục vụ công tác hiệu chỉnh chuyển vị ngang theo phương pháp điểm giằng.
  4. Ban hành hệ thống ngưỡng cảnh báo phân tầng: Chủ đầu tư và tư vấn giám sát cần thiết lập quy chế cảnh báo 3 cấp độ (Vàng tại 70%, Cam tại 85% và Đỏ tại 100% giới hạn chuyển vị 0,7%H theo chuẩn BCA) nhằm đưa ra biện pháp ứng phó kịp thời như hạ tải mặt đất xung quanh 1,5 m hoặc bổ sung thanh chống xiên trước khi xảy ra biến dạng nứt nẻ công trình lân cận.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị thực tiễn và học thuật cho 4 nhóm đối tượng:

  1. Kỹ sư thiết kế địa kỹ thuật và kết cấu ngầm: Vận dụng quy trình phân tích để lựa chọn độ sâu ngàm tường chắn hợp lý, hiệu chỉnh thông số đầu vào cho mô hình số Plaxis 2D và Plaxis 3D, từ đó dự báo chính xác độ lún lệch và nội lực phát sinh trong công trình lân cận.
  2. Kỹ sư quan trắc và trắc địa công trình: Áp dụng trực tiếp thuật toán và biểu mẫu hiệu chỉnh hình học nhằm loại bỏ sai số điểm chuẩn trong các báo cáo quan trắc định kỳ hàng tuần gửi chủ đầu tư.
  3. Chỉ huy trưởng và cán bộ quản lý dự án thi công hầm: Nắm vững cơ chế làm việc của hệ cừ giằng và rủi ro chuyển vị hông để điều hành tiến độ đào đất theo từng phân đoạn (Zone), đảm bảo an toàn tuyệt đối cho các tòa nhà trong bán kính ảnh hưởng 2 lần chiều sâu hố đào.
  4. Giảng viên, học viên cao học và sinh viên chuyên ngành Công trình ngầm: Sử dụng làm tài liệu tham khảo chuyên sâu về phương pháp xử lý số liệu quan trắc thực tế kết hợp mô phỏng địa kỹ thuật nâng cao.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao số liệu đo Inclinometer thô thường nhỏ hơn chuyển vị thực tế của tường vây?

Thiết bị Inclinometer mặc định tính toán chuyển vị tích lũy dựa trên giả định đáy ống đo là điểm cố định có chuyển vị bằng 0. Trong nền đất yếu, chân tường cừ bị dịch chuyển ngang vào hố đào từ 8 mm đến 15 mm, khiến toàn bộ đường cong quan trắc bị tịnh tiến âm, làm giảm giá trị chuyển vị tổng thể so với thực tế.

Phương pháp hiệu chỉnh theo mốc đỉnh tường được thực hiện như thế nào?

Kỹ sư sử dụng máy toàn đạc điện tử hoặc máy thủy bình đo chuyển vị ngang thực tế tại đỉnh cừ so với mốc chuẩn ngoài phạm vi ảnh hưởng của hố đào. Sau đó, độ lệch giữa số đo quang trắc bề mặt và số đo Inclinometer tại đỉnh cừ được dùng làm giá trị tịnh tiến để cộng bù cho toàn bộ chiều sâu thân cừ.

Khi nào nên áp dụng phương pháp hiệu chỉnh theo điểm giằng chống?

Phương pháp này áp dụng tối ưu khi không thể dẫn mốc quang học để đo đỉnh cừ do vướng mặt bằng thi công. Dựa trên giả thiết chuyển vị ngang tại điểm giằng sau khi lắp đặt bằng độ biến dạng đàn hồi co ngắn của thép H350 hoặc H400 (thường rất nhỏ dưới 2 mm), giá trị này được dùng làm điểm kiểm soát để hiệu chỉnh số đo Inclinometer.

Chiều dày lớp đất sét yếu ảnh hưởng như thế nào đến mức độ sai số?

Tại các dự án có bề dày lớp bùn sét mềm từ 10 m đến 16 m, áp lực đất chủ động tác động lên thân cừ rất lớn trong khi sức kháng cắt đáy cừ rất nhỏ. Điều này khiến mức độ đá chân cừ tăng thêm từ 30% đến 50% so với nền đất cát, dẫn đến sai số quan trắc thô càng trở nên nghiêm trọng.

Phần mềm Plaxis 2D đóng vai trò gì trong việc đánh giá kết quả hiệu chỉnh?

Plaxis 2D sử dụng mô hình Hardening Soil để mô phỏng chính xác quá trình thi công đào dỡ tải và kích hoạt từng tầng thanh chống. Kết quả đường cong chuyển vị từ mô phỏng số đóng vai trò chuẩn đối sánh độc lập, khẳng định đường cong sau hiệu chỉnh phản ánh đúng quy luật cơ học của kết cấu chắn giữ.

Kết luận

  • Nghiên cứu đã chứng minh rõ ràng hiện tượng dịch chuyển chân tường cừ trong nền đất sét yếu là nguyên nhân cốt lõi gây sai số nghiêm trọng cho thiết bị Inclinometer.
  • Hai phương pháp hiệu chỉnh hình học dựa trên mốc đỉnh cừ và điểm nút giằng chống đã giải quyết triệt để sai số tịnh tiến, nâng độ chính xác của số liệu quan trắc lên trên 95%.
  • Kết quả hiệu chỉnh tại dự án The Golden Star đã điều chỉnh chuyển vị ngang tối đa từ 21,3 mm lên 32,5 mm, đưa tỷ số biến dạng thực tế về mức 0,76%H phù hợp với thông lệ kỹ thuật quốc tế.
  • Mô hình phần tử hữu hạn Plaxis 2D đóng vai trò công cụ kiểm chứng tin cậy với mức độ tương thích cao trên toàn bộ biểu đồ biến dạng theo chiều sâu 18 m.
  • Toàn bộ quy trình hiệu chỉnh cần được chuẩn hóa và áp dụng bắt buộc trong vòng 3 đến 6 tháng tới cho mọi dự án hố đào sâu đô thị trên nền đất yếu.

Các kỹ sư và nhà thầu hãy áp dụng ngay quy trình hiệu chỉnh này vào công tác quan trắc thực tế để nâng cao độ an toàn và bảo vệ toàn diện các công trình xây dựng ngầm.