CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐỘNG CƠ TUYẾN TÍNH VÀ PHƯƠNG PHÁP GIẢI BÀI TOÁN QUÁ TRÌNH QUÁ ĐỘ 1. Những đặc điểm của một hệ truyền động thẳng [4] Để tạo ra truyền động thẳng cho các đối tượng công nghệ có hai phương pháp là phương pháp gián tiếp và phương pháp trực tiếp Hình 1. Tạo chuyển động thẳng sử dụng đai truyền Hình 1. Tạo chuyển động thẳng sử dụng trục vít 7 Hình 1.
Tạo chuyển động thẳng sử dụng động cơ tuyến tính Từ các hình ảnh sử dụng các phương pháp để tạo ra chuyển động thẳng trên ta có một số nhận xét như sau: 1. Phương pháp tạo ra chuyển động tuyến tính gián tiếp Nguồn động lực được sử dụng ở đây là các động cơ quay tròn. Để tạo ra chuyển động thẳng đưa tới cơ cấu sản xuất thông qua các phần tử cơ khí trung gian như (đai truyền, hộp số, trục vít,…) do vậy nó tồn tại những nhược điểm đáng kể: - Kết cấu cơ khí phức tạp do tồn tại các phần tử trung gian, độ chính xác của hệ thống thấp do sai số tích lũy của các phần tử có trong toàn hệ thống, - Hiệu suất của hệ thống thấp. - Khả năng động học của hệ thống thấp do tồn tại những dao động riêng của các phần tử trung gian.2 Phương pháp tạo ra chuyển động tuyến tính trực tiếp: Ở phương pháp này động cơ tuyến tính được sử dụng để tạo ra chuyển động thẳng trực tiếp.
Khi sử dụng động cơ tuyến tính hệ thống sẽ khắc phục được những nhược điểm của phương pháp tạo chuyển động tuyến tính gián tiếp. Được thể hiện trong những mặt sau: 8 - Đơn giản về mặt kết cấu cơ khí do loại bỏ được các phần tử trung gian do đó giảm được chi phí bảo dưỡng vận hành. - Hiệu suất của hệ thống được nâng cao do vậy độ chính xác của hệ cũng nâng lên. - Đặc tính động học của hệ được nâng cao, loại được các dao động riêng của các phần tử trung gian.
- Tăng được giới hạn trên về lực đẩy và gia tốc. - Ít gây ồn khi làm việc, bảo dưỡng cũng dễ dàng hơn, tuổi thọ trung bình dài hơn.3 Những nhược điểm còn tồn tại trong hệ thống sử dụng động cơ tuyến tính: - Giải pháp làm mát phức tạp. - Khó chuẩn hóa (thường được sử dụng trong các máy chuyên dụng) nên hệ thống có giá thành cao. Để chỉ ra sự so sánh chi tiết giữa các hệ thống chuyển động thẳng có thể chỉ ra khi sử dụng các thiết bị cụ thể theo từng khía cạnh (bảng 1.
So sánh các hệ chuyển động (+: tốt; -: xấu) Thiết bị Đai truyền Vít dẫn Trường và Puli Bánh Răng Trục vít ĐCTT hướng hợp Độ chính xác -- - ++ + ++ Dải tốc độ + - -- - ++ dịch chuyển - + -- -- ++ Lực đẩy - + - + ++ Ma sát + + -- + ++ 9 Bảo dưỡng + + - -- ++ Thời gian + - -- + ++ Giá thành + ++ ++ + - Hiệu quả + - -- - ++ Từ những phân tích trên ta thấy rằng khi sử dụng động cơ tuyến tính mặc dù có nhiều ưu điểm nhưng vẫn còn tồn tại những nhược điểm cố hữu của nó. Đặc biệt là về giá thành của một hệ thống động cơ tuyến tính khi ứng dụng vào các hệ thống. Điều này sẽ được giải quyết nếu như số lượng của động cơ tuyến tính được sản xuất hàng loạt tại các nhà máy sản xuất động cơ tuyến tính. Chính vì vậy trong thời gian gần đây các nghiên cứu để đưa động cơ tuyến tính vào các dây chuyền sản xuất tự động đang được sự quan tâm đặc biệt và tiềm năng tham gia của động cơ tuyến tính đã bắt đầu được khai thác.
Lịch sử phát triển và ứng dụng của động cơ tuyến tính [1] 1. Vài nét về lịch sử phát triển của động cơ tuyến tính Theo nguyên lý cơ bản của động cơ tuyến tính được đưa ra vào khoảng năm 1840 bởi Charles Wheatstone là một nhà khoa học người Anh. Năm 1989 hai nhà khoa học người Mỹ là Schuyler S. Wheeler và Charles S.
Bradley đã xin cấp bằng sáng chế về việc ứng dụng nguyên lý của động cơ tuyến tính đồng bộ và không đồng bộ vào hệ thống tàu điện. Bằng sáng chế tại Mỹ đầu tiên được cấp cho nhà sáng chế người Đức là Alfred Zehden vào năm 1902 và 1907 là việc sử dụng động cơ tuyến tính trên hệ thống đường sắt. Một loạt các bằng sáng chế tại Đức cho tàu đệm từ được cấp cho Hermann Kemper từ năm 1935 đến 1941. Đến cuối những năm 1940 giáo sư Eric Laithwaite tại viện nghiên cứu Hoàng gia Anh đã đưa ra được mô hình thực tế động cơ làm việc được và nó được ứng dụng trong hệ thống máy dệt công nghiệp.
Với việc chế tạo thành công động cơ tuyến tính đầu tiên này đã 10 dành được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và nó được coi là Máy điện của tương lai. Những ứng dụng của động cơ tuyến tính đã được áp dụng trong thực tiễn Động cơ tuyến tính hiện đã được ứng dụng trong thực tiễn ở mọi dải công suất. Ở dải công suất lớn chúng hiện diện trong cơ cấu truyền động dùng trong các phương tiện giao thông như tàu điện, xe bus nhanh (Metro). Trong dải công suất trung bình và nhỏ nó được ứng dụng trong việc điều khiển tự động máy công cụ kỹ thuật số CNC, điều khiển tay máy Robot, máy nâng hạ, điều khiển các hệ thống sản xuất linh hoạt yêu cầu cao về độ chính xác vị trí, tốc độ và tác động nhanh.
Trong dải công suất nhỏ được sử dụng trong thiết bị như máy in, máy cắt laser sử dụng trong phẫu thuật,… Hình 1. Các ứng dụng của động cơ tuyến tính 11 Hình 1. Các ứng dụng trong một dây chuyền sử dụng động cơ tuyến tính Các động cơ tuyến tính khi được kết hợp vào modul, chúng được kết hợp một cách nhanh chóng để tạo thành một hệ thống chuyển động đa trục. Việc can thiệp vào dây chuyền cũng như tùy chỉnh quá trình công nghệ sẽ trở nên đơn giản hơn khi các động cơ được kết nối với hệ thống điều khiển trung tâm.
Ngoài những ứng dụng trong các hệ thống máy móc trong công nghiệp động cơ tuyến tính được quan tâm đặc biệt trong lĩnh vực giao thông vận tải tại các nước phát triển. Có thể kể ra một số ứng dụng điển hình: • Tàu điện nhanh sân bay JFK Newyork (2003) • Tuyến metro 4 Quảng Châu (2005) • Tàu điện nhanh sân bay Bắc Kinh (2008) • Green Line Yokohama (2008) Đặc biệt tàu đệm từ sử dụng động cơ truyền động thẳng giữa sân bay và trung tâm Thượng Hải có tốc độ 500 km/giờ. Tàu đệm từ HSST Limo line ở Aichi Nhật bản năm 2005. Hình ảnh tàu Transrapid trên đoạn đường chạy thử nghiệm 1.
Phân loại động cơ tuyến tính [1] 1. Sơ lược về động cơ tuyến tính Để hiểu rõ hơn về động cơ tuyến tính chúng ta có thể hình dung ra một động cơ quay tròn bất kỳ nào khi tăng bán kính của động cơ đến vô cùng ta sẽ thu được hình ảnh Rotor và Stator song song với nhau. Trong chuyển động tương đối khi chọn gốc tọa độ gắn với hệ quy chiếu nào ta sẽ suy ra được chuyển động tương đối của thành phần còn lại so với gốc tọa độ. Với quan điểm như vậy động cơ tuyến tính sẽ gồm hai thành phần: Thành phần thứ nhất nhận dòng năng lượng điện đi tới (phần sơ cấp), thành phần thứ hai là dòng năng lượng đưa ra dưới dạng cơ năng (phía thứ cấp).
Từ quan điểm trên ta có thể thấy với động cơ tuyến tính phần tạo chuyển động thẳng có thể là phần Stator hay phần Rotor của máy điện quay truyền thống, từ đó tạo ra những động cơ tuyến tính tương ứng. Nguyên lý chuyển đổi từ động cơ quay sang động cơ tuyến tính Từ nguyên lý cơ bản trên động cơ tuyến tính được phát triển với cấu tạo khác nhau tương ứng dựa vào mục đích sử dụng. Việc lựa chọn động cơ tuyến tính phụ thuộc vào thuộc tính và nguyên tắc hoạt động của chúng. Ban đầu động cơ tuyến tính chủ yếu được sử dụng cho hệ thống giao thông vận tải.
Hiện nay động cơ tuyến tính được sử dụng để thay thế một hệ thống sử dụng động cơ quay và các thiết bị cơ khí để tạo ra một chuyển động thẳng trực tiếp. Các dạng cấu tạo của động cơ tuyến tính Từ nguyên lý cơ bản như trên ta chế tạo được các dạng động cơ tuyến tính khác nhau từ yêu cầu thực tế công nghệ. Tuy nhiên ta có thể chia làm ba dạng chính như sau. Dạng thứ nhất: Single-sided (Động cơ tuyến tính phẳng với một mặt trượt đơn) Động cơ này bao gồm một thành phần sơ cấp (phần động), một thành phần thứ cấp (Phần tĩnh).
Động cơ tuyến tính phẳng với một mặt trượt đơn 14 Khái niệm Stator thường được dùng để chỉ phần tĩnh trong máy điện tuy nhiên ở động cơ tuyến tính Stator lại là phần động. Trong trường hợp này Stator mang ý nghĩa là phần nhận điện năng từ nguồn cung cấp. Với động cơ tuyến tính đại đa số hệ thống cuộn dây đều nằm ở phần động. Phần Rotor lúc này đóng vai trò là phần tĩnh, trải dài theo toàn bộ chiều dài của máy điện (Hệ thống vòng ngắn mạch của động cơ tuyến tính không đồng bộ, hệ thống nam châm vĩnh cửu của động cơ tuyến tính kích thích vĩnh cửu).
Dạng thứ hai: Double-sided (Động cơ tuyến tính phẳng có dạng kết cấu răng lược) Thông thường phần sơ cấp chính là thành phần Stator được bố trí đối xứng (dạng răng lược) phần tạo chuyển động là phần Rotor (phần thứ cấp) Hình 1. Động cơ tuyến tính phẳng có dạng kết cấu răng lược Dạng thứ ba: Polysolenoid linear motor (Động cơ tuyến tính có kết cấu dạng hình ống). Xuất phát từ ý tưởng cuộn tròn động cơ tuyến tính dạng phẳng một mặt trượt đơn quanh một trục thẳng, kết quả thu lại sẽ được một động cơ hình ống. Động cơ tuyến tính có kết cấu dạng hình ống Hình 1.
Các biến dạng của động cơ tuyến tính 1. Phân loại động cơ tuyến tính Như đã phân tích ở phần trước động cơ tuyến tính được phát triển từ động cơ động cơ quay tròn truyền thống nên nó có những nét tương đồng với những động cơ tương ứng tuy nhiên nó cũng có những đặc điểm khác biệt đặc trưng.