Chương I: Tổng quan - Chương II: Đặc điểm ngữ dụng của hành vi chào hỏi trong tiếng Việt và tiếng Pháp. - Chương III: Đối chiếu đặc điểm ngữ dụng của hành vi chào hỏi trong tiếng Việt và tiếng Pháp. 5 CHƢƠNG I TỔNG QUAN 1. Giao tiếp và giao tiếp bằng ngôn ngữ.
Khái niệm giao tiếp. Giao tiếp là nhu cầu thiết yếu không thể thiếu của con người, nó đóng một vai trò quan trọng trong sự vận động và phát triển của loài người.Berlo (1960), giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định, có ý thức hay không ý thức mà trong đó các cảm xúc, tư tưởng được biểu đạt qua các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Giao tiếp của con người diễn ra ở các phương diện: trong con người, giữa con người, với con người và công cộng. Giao tiếp của con người là một quá trình năng động, liên tục, có tác động qua lại và có tính chất ngữ cảnh.
Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng, giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động. Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như: trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác. Giao tiếp có ba khía cạnh chính: giao lưu, tác động, tương hỗ và tri giác. Theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện, giao tiếp là quá trình truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người khác hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác).
Thông tin hay thông điệp được nguồn phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng một mã chung. Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên), giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau. Còn trong “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên) cho rằng giao tiếp là sự tiếp xúc trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư thế, trang phục… 6 Như vậy, chúng ta thấy rằng có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tùy theo phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó. Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu rằng giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm… giao tiếp là phương thức tồn tại của con người.
Xuất phát từ các quan điểm phong phú như vậy dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về giao tiếp. Các quan điểm trên còn có nhiều điểm khác nhau nhưng đã phần nào phản ánh nên diện mạo bề ngoài của giao tiếp. Giao tiếp và hoạt động không tồn tại song song hay tồn tại độc lập mà chúng tồn tại thống nhất, chúng là hai mặt của sự vận động và tồn tại của xã hội loài người. Giao tiếp bằng ngôn ngữ Như trên đã đề cập, các hình thức giao tiếp có thể được thể hiện bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ.
Ngôn ngữ được coi là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người, là công cụ để con người có thể giao tiếp được với nhau. Trong quá trình sử dụng ngôn ngữ để giao tiếp, những người tham gia giao tiếp phải có kỹ năng giao tiếp, có nghĩa là khả năng sử dụng ngôn ngữ giao tiếp trong môi trường cụ thể. Khả năng này tuy đa dạng nhưng lại có quy luật nhằm giúp cho các cộng đồng nói năng có thể hiểu nhau và giao tiếp được với nhau. Chính vì vậy, giao tiếp nói chung và giao tiếp bằng ngôn ngữ nói riêng đều mang tính xã hội.
Giao tiếp ngôn ngữ là sự giao tiếp được tiến hành thông qua hệ thống tín hiệu thứ hai: lời nói và chữ viết. Đây là hình thức giao tiếp đặc trưng cơ bản nhất trong hệ thống giao tiếp xã hội bởi nó có những chức năng: chức năng thông báo, chức năng diễn cảm và chức năng tác động.Lênin đã định nghĩa: “Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp trọng yếu nhất của con người” (Mác, Ăng ghen, Lênin – Bàn về ngôn ngữ, NXB Sự thật, Hà Nội, 1962). Chức năng giao tiếp của ngôn ngữ thể hiện ở chổ: nhờ ngôn ngữ mà con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, con người có theo diễn đạt và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng của mình. Có hiểu biết lẫn nhau, con người mới có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên nhiên, chinh phục xã hội làm cho xã hội ngày càng phát triển.
7 Giao tiếp ngôn ngữ có thể được biểu hiện qua nhiều hình thức. Trong giao tiếp, tùy vào đối tượng, mục đích, hoàn cảnh giao tiếp… mà người ta sử dụng các hình thức biểu đạt ngôn ngữ khác nhau. Theo như cách chia của trường phái Palo Alto thì có giao tiếp chỉ định và giao tiếp loại suy, hay bác sỹ Nguyễn Khắc Viện thì gọi là giao tiếp nói chỉ (chỉ định) và giao tiếp nói ví (loại suy). Trong tiếng Việt, tương ứng với các cách gọi như trên ta còn có thể gọi là hiển ngôn (nói chỉ) hay hàm ngôn (nói ví).
Trong đó có kiểu chỉ nói theo những quy ước rõ ràng ngôn ngữ nói hay viết bằng cách sử dụng từ vựng, ngữ nghĩa nhất định. Ngôn ngữ toán học, vi tính, chữ người mù thuộc kiểu này. Kiểu ví thứ hai là kiểu ví vận dụng giọng nói, tư thế, cử chỉ tức là những kênh cận ngôn ngữ hay phi ngôn ngữ diễn tả tình cảm, và những yếu tố chủ quan, quan hệ cảm xúc giữa hai bên đối thoại. Giữa hai kiểu này có thể ăn khớp hay không ăn khớp, và mọi hoạt động giao tiếp đều diễn ra trong một bối cảnh nhất định.
Ngôn ngữ tình thái nhằm phản ánh khía cạnh tâm lý, xã hội của chủ thể, giúp cho đối tượng giao tiếp hiểu được tốt hơn ý nghĩa, nội dung thông tin. Ngôn ngữ tình thái phản ánh thái độ của người nói đối với thông tin mình nói ra, cách người đó đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu, tính khả năng, tính chất mong muốn hay đáng tiếc của điều thông báo. Muốn hiểu được khía cạnh tâm lý xã hội của ứng xử ngôn ngữ trong giao tiếp, ngoài các quy tắc sử dụng ngôn ngữ của mỗi dân tộc, đối tượng giao tiếp còn phải tìm hiểu cách diễn đạt ngôn ngữ của mỗi cộng đồng, mỗi nền văn hóa thông qua những thỏa thuận ngầm về các quy tắc ứng xử của các cộng đồng hay nền văn hóa đó. Việc sử dụng ngôn ngữ trong giao tiếp còn phụ thuộc vào hoàn cảnh giao tiếp, chủ thể và đối tượng giao tiếp cũng như mối quan hệ giữa họ.
Tin đồn là một phương thức giao tiếp ngôn ngữ phổ biến trong đời sống hàng ngày và trong các tổ chức xã hội. Khi thông tin được truyền miệng từ người này sang người khác, một số chi tiết có thể bị quên lãng hoặc nhớ thiếu chính xác, các ngôn ngữ bị thay thế khi kể truyền tiếp, nội dung và cách hiểu thông tin phụ thuộc nhiều vào đặc điểm cá nhân của mỗi người…vì thế tin đồn thường bị méo mó sai lệch, thiếu chính xác. 8 Qua việc phân tích trên, chúng ta nhận thấy rằng trong giao tiếp ngôn ngữ gặp phải một số hạn chế do cả nguyên nhân khách quan và nguyên nhân chủ quan. - Nguyên nhân chủ quan: + Giữa các chủ thể và đối tượng giao tiếp đã không thể tạo ra được điểm tương đồng do không xác định được những chuẩn mực ứng xử cá nhân hoặc do những ức chế tích dồn ở các cá nhân trong quá trình giao tiếp.
Kết thúc dễ dẫn đến va chạm, xung đột. + Quá trình giao tiếp phân chia làm hai cực, mỗi bên – chủ thể và đối tượng giao tiếp – bảo vệ ý kiến riêng của mình, không có sự chấp nhận, dung hòa…Kết thúc là không đem đến kết quả như mỗi bên mong muốn. + Khi một bên đối thoại có những biểu hiện nổi loạn tâm lý, tư duy “có vấn đề”. - Nguyên nhân khách quan: + Do sự khác nhau về phong tục tập quán, ngôn ngữ, trình độ phát triển về văn hóa – xã hội ở các địa phương, các dân tộc và các quốc gia khác nhau.
+ Môi trường giao tiếp, tiếng ồn, nhiệt độ… 1. Giao tiếp phi ngôn ngữ Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất chứ không phải duy nhất, bởi lẽ, trong cuộc sống xã hội hiện đại, con người còn tạo ra và sử dụng nhiều loại phương tiện giao tiếp bổ sung như: động tác, cử chỉ, dấu hiệu và kí hiệu; âm nhạc, hội họa và điêu khắc…Đây là giao tiếp phi ngôn ngữ. Giao tiếp phi ngôn ngữ được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt; thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi tiếp xúc. Giao tiếp phi ngôn ngữ ra đời trước giao tiếp ngôn ngữ, có cội nguồn sinh học dựa trên cơ sở hành vi bản năng gắn liến với quá trình tiến hóa, di truyền từ thế giới động vật.
Trong giao tiếp phi ngôn ngữ, không phải lúc nào cũng có sự tham gia của ý thức, vì thế nên thông qua quá trình giao tiếp này người ta thường bộc lộ chân thật 9 các suy nghĩ, tình cảm, thái độ, ý kiến…của mình, tuy nhiên lại không dễ hiểu được chúng. Đây là kiểu giao tiếp được thể hiện thông qua sự vận động của cơ thể như cử chỉ, tư thế, nét mặt, giọng nói, thông qua cách trang phục hoặc tạo ra khoảng không gian nhất định khi giao tiếp. Giao tiếp phi ngôn ngữ có hai chức năng cơ bản là: - Chức năng biểu hiện trạng thái cảm xúc nhất thời: thông qua nét mặt, điệu bộ, giọng nói…chủ thể giao tiếp biểu hiện các tâm tư, sắc thái, trạng thái cảm xúc khác nhau. Các trạng thái cảm xúc này lan truyền sang đối tượng giao tiếp, làm ảnh hưởng rất lớn đến đối tượng giao tiếp.