Chương 1. GIỚI THUYẾT VỀ NHỮNG VẤN ĐỀ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1. Vài nét về trường từ vựng 1. Một số khái niệm về trường từ vựng Năm 1896, M.Pokrovxkij viết: “Từ và ý nghĩa của chúng không tồn tại tách rời nhau mà liên kết với nhau trong tư tưởng của chúng ta và độc lập với ý thức chúng ta thành những nhóm nhất định.
Cơ sở để tập hợp những nhóm như vậy là sự đồng nhất hay trái ngược trực tiếp giữa chúng về ý nghĩa. Chúng ta đã biết một cách tiên nghiệm rằng các từ như vậy hoặc giống nhau hoặc song hành với nhau trong sự biến đổi ý nghĩa và trong lịch sử của chúng, chúng ảnh hưởng lẫn nhau. Chúng ta cũng biết rằng những từ này được dùng trong những tổ hợp cú pháp giống nhau”.Osthoff viết: “Có những hệ thống nhất định ý nghĩa phụ thuộc lẫn nhau và vị trí ngữ nghĩa của từng yếu tố chỉ có thể được hiểu rõ nhờ vào cấu trúc của từng hệ thống đó” [Dẫn theo 4]. Nhưng nguyên lí của F.Saussure mới là bước quyết định hình thành nên lí thuyết về các trường: “giá trị của bất cứ yếu tố nào cũng do những yếu tố ở xung quanh quy định” và “chính phải xuất phát từ cái toàn thể làm thành một khối để phân tích ra những yếu tố mà nó chứa đựng”.
[Dẫn theo 4] Lí thuyết trường chính thức được đưa ra là nhờ công lao của hai nhà ngôn ngữ người Đức J. Trier cho rằng trong ngôn ngữ mỗi từ tồn tại trong một trường, giá trị của nó là do quan hệ với các từ trong trường quyết định, rằng trường là những hiện thực ngôn ngữ nằm giữa từ (riêng lẻ) với toàn bộ từ vựng, trường quan hệ với toàn bộ từ vựng cũng như từ quan hệ với trường của mình. Ở Việt Nam, giáo sư Đỗ Hữu Châu là người nghiên cứu sớm và có nhiều công trình về lí thuyết trường. Định nghĩa trường của ông được rất nhiều người chấp nhận và sử dụng phổ biến: Trường từ vựng là một tập hợp các đơn vị từ vựng căn cứ vào một nét đồng nhất nào đó về ngữ nghĩa.
Các loại trường từ vựng - ngữ nghĩa Theo Giáo sư Đỗ Hữu Châu, có bốn loại trường nghĩa dựa vào quan hệ ngữ nghĩa trong lòng mỗi trường và giữa các trường với nhau. Dạng quan hệ ngang (hay quan hệ h́ nh tuyến, quan hệ tuyến tính, quan hệ ngữ đoạn) thì có trường nghĩa ngang với hai loại là trường nghĩa tuyến tính và trường nghĩa liên tưởng. Dạng quan hệ dọc (hay quan hệ trực tuyến, quan hệ hệ hình) thì có trường nghĩa dọc với hai loại là trường nghĩa biểu vật và trường nghĩa biểu niệm. Sau đây là sự trình bày bốn loại trường từ vựng - ngữ nghĩa lần lượt là trường biểu vật, trường biểu niệm, trường tuyến tính và trường liên tưởng.
Trường nghĩa biểu vật Một trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật. Để có những căn cứ dựa vào đó mà đưa các nghĩa biểu vật của các từ về trường biểu vật thích hợp, chúng ta chọn các danh từ làm gốc. Các danh từ này phải có tính khái quát cao, gần như là tên gọi của các phạm trù biểu vật như người, động vật, thực vật, vật thể, chất liệu,… Các danh từ này cũng là tên gọi các nét nghĩa có tác dụng hạn chế ý nghĩa của từ về mặt biểu vật, là những nét nghĩa cụ thể, thu hẹp ý nghĩa của từ. Như vậy, chúng ta sẽ đưa một từ về một trường biểu vật nào đó khi nét nghĩa biểu vật của nó trùng với tên gọi của danh từ trên.
Ví dụ với từ “tóc” ta có trường: - Bộ phận của tóc: ngọn tóc, chân tóc, sợi tóc, mái tóc, đuôi tóc,… - Đặc điểm của tóc: Đặc điểm ngoại hình: bồng bềnh, ngắn, dài, xoăn, thẳng, dễ tre, tóc tơ, vàng, đen, bạc, trắng, nâu, xanh, đỏ,…; Tình trạng của tóc: chẻ ngọn, khỏe, mượt, rối, gãy, đứt, khô, sâu,… Cần chú ý rằng khi phân lập các trường, cần chú ý đến nghĩa biểu vật chứ không chú ý đến từ. Nói rõ hơn phân lập trường không phải là phân loại từ. Không phải một từ đã có ở trường này thì không thể có ở trường kia được nữa. Vì từ có tính nhiều nghĩa biểu vật, do đó từ có thể nằm trong nhiều trường biểu vật khác nhau hay trong nhiều trường nhỏ khác nhau tùy tùy theo số lượng các ý nghĩa biểu vật của nó.
Do chỗ có các từ đi vào nhiều trường, cho nên các trường biểu vật có thể “thấm thấu”, “giao thoa” với nhau. Hai trường biểu vật giao thoa với nhau khi một số từ của trường này nằm trong trường kia. Trường nghĩa biểu niệm Một trường biểu niệm là một tập hợp các từ có chung một cấu trúc biểu niệm. Do có hiện tượng nhiều nghĩa biểu niệm, cho nên một từ có thể đi vào những trường biểu niệm (hay đi vào những trường nhỏ) khác nhau.
Vì vậy, cũng giống như các trường biểu vật, các trường biểu niệm có thể “giao thoa”, “thẩm thấu” vào nhau. Dưới đây là ví dụ về trường biểu niệm dẫn theo ví dụ của Đỗ Hữu Châu. Trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (thay thế hoặc tăng cường thao tác lao động) (cầm tay): - Dụng cụ để chia, cắt: dao, cưa, búa, phảng, rìu, liềm, hái,.; - Dụng cụ để xoi, đục: đục, dùi, chàng, khoan,…; - Dụng cụ để nện, gõ: búa, vồ, dùi đục, dùi cui,… Sự phân lập từ vựng thành trường biểu vật và trường biểu niệm như đã nói dựa trên sự phân biệt hai thành phần ngữ nghĩa trong từ. Nó phản ánh cách nhìn từ vựng ở hai góc độ khác nhau.
Tuy nhiên, hai loại trường dọc này có liên hệ với nhau: nếu lấy những nét nghĩa biểu vật trong cấu trúc biểu niệm làm tiêu chí lớn để tập hợp thì chúng ta có các trường biểu vật. Nhưng khi cần phân một trường biểu vật thành các trường nhỏ thì lại phải dựa vào các nét nghĩa khác trong cấu trúc biểu niệm. 9 Trái lại, khi phân lập các trường biểu niệm, cần dựa vào cấu trúc biểu niệm, song khi phân nhỏ chúng ra, đến một lúc nào đó phải sử dụng đến nét nghĩa biểu vật. Dựa vào ý nghĩa của từ mà chúng ta phân lập được các trường.
Nhưng cũng chính nhờ các trường, nhờ sự định vị của từng từ một trong trường thích hợp mà chúng ta hiểu sâu sắc thêm ý nghĩa của từ. Trường nghĩa tuyến tính Để lập nên các trường nghĩa tuyến tính, chúng ta chọn một từ làm gốc rồi tìm tất cả những từ có thể kết hợp với nó thành những chuỗi tuyến tính (cụm từ, câu) chấp nhận được trong ngôn ngữ. Ví dụ trường nghĩa tuyến tính của từ ăn là cơm, cháo, bún,…; ít, nhiều, nhanh, chậm…; lười, tham,… Trường nghĩa tuyến tính của từ học là chăm, lười …; giỏi, dốt, kém, tốt, yếu …; toán, văn, sinh, hóa,… Cùng với trường nghĩa dọc, trường nghĩa tuyến tính góp phần làm sáng tỏ những quan hệ và cấu trúc ngữ nghĩa của từ vựng, giúp phát hiện những đặc điểm nội tại và đặc điểm hoạt động của từ. Trường liên tưởng Nhà ngôn ngữ học Pháp Ch.
Bally là tác giả đầu tiên của khái niệm trường liên tưởng. Theo ông, mỗi từ có thể là trung tâm của một trường liên tưởng như từ bò của tiếng Pháp chẳng hạn, có thể gợi ra liên tưởng: 1. Bò cái, bò mộng, bê, sừng, gặm cỏ,… 2. Sự cày bừa, cái cày, cái ách,… 3.
Những ý niệm về tính thụ động mà chúng ta gặp trong các lối so sánh trong các thành ngữ Pháp v.v… Dễ dàng nhận thấy rằng các từ trong một trường liên tưởng là sự hiện thực hóa, sự cố định từ bằng các ý nghĩa liên hội có thể có của từ trung tâm. Các trường liên tưởng thường không ổn định nên ít có tác dụng phát hiện những quan hệ cấu trúc về ngữ nghĩa của các từ và từ vựng. Nhưng có tác dụng trong sự giải thích sự dùng từ của các tác giả. Giá trị biểu đạt của trường từ vựng - ngữ nghĩa 1.
Giá trị biểu đạt hiện thực khách quan Một trường biểu vật là một tập hợp những từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật. Thế nên, nhờ các nét nghĩa biểu vật chung đấy mà hiện thực khách quan được thể hiện rõ nhất. Ví dụ khi xác lập trường nghĩa biểu vật “bộ phận cơ thể người” trong tư duy của ta sẽ phân tách các từ có khả năng vào trường thành các nét nghĩa nhỏ. Tay: bộ phận cơ thể người/ở phần thân trên/có tác dụng cầm, nắm, ném… Miệng: bộ phận cơ thể người/ở phần mặt/có tác dụng ăn, nói… Mắt: bộ phận cơ thể người/ở phần mặt/có tác dụng nhìn Ta thấy các từ trên có chung một ý nghĩa biểu vật là bộ phận cơ thể người, chính vì vậy chúng được tập hợp vào trường biểu vật là “bộ phận cơ thể người”.
10 Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là các trường biểu niệm không phản ánh hiện thực khách quan. Nó cũng phản ánh hiện thực khách quan một cách sâu sắc. Ví dụ: trường biểu niệm (vật thể nhân tạo)… (phục vụ sinh hoạt) - Dụng cụ để ngồi, nằm: ghế, giường, phản, đi văng… - Dụng cụ để mặc, che thân: áo, quần, sơmi, khăn, khố… Từ các ví dụ trên, có thể khẳng định trường từ vựng - ngữ nghĩa có chức năng biểu đạt hiện thực khách quan, thông qua sự biểu đạt của các từ trong trường. Các trường từ là những tập hợp mở, phong phú và đa dạng như sự phong phú, đa dạng của từ ngữ.
Chính vì thế hiện thực khách quan mà nó phản ánh không thua kém gì từ, từ bộ phận cơ thể người, các hiện tượng thiên nhiên cho đến tính chất, trạng thái của sự vật… 1. Giá trị biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo Chủ thể sáng tạo trong ngôn ngữ học là những người làm ra văn bản ngôn từ: bài thơ, bài văn, bài báo, bài tiểu luận, báo cáo khoa học… hay đơn thuần chỉ là một văn bản nói trong giao tiếp hàng ngày. Tuy nhiên khi nghiên cứu tác phẩm văn học theo hướng ngôn ngữ học, ta cũng cần phải hiểu thêm rằng, chủ thể sáng tạo hay còn gọi là tác giả văn học, ngoài việc tạo ra văn bản ngôn từ còn là “người có ý kiến riêng về đời sống và thời cuộc. Đó là người phát biểu một tư tưởng mới, quan niệm mới, một cách hiểu mới về các hiện tượng đời sống, bày tỏ một lập trường xã hội và công dân nhất định.
Xét về đặc trưng, tác giả văn học là người xây dựng thành công các hình tượng nghệ thuật độc đáo, sống động, có khả năng tồn tại được trong sự cảm thụ thích thú của người đọc.