Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trong lịch sử xã hội phong kiến Việt Nam, hệ tư tưởng Nho giáo đã xác lập và duy trì trật tự xã hội mang tính gia trưởng với quan niệm điển hình như "Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô". Tư tưởng "trọng nam khinh nữ" chi phối sâu sắc đời sống thực tiễn: nam giới độc quyền việc học tập, thi cử và gánh vác trách nhiệm rường cột theo chuẩn mực "Tam cương ngũ thường", trong khi nữ giới bị giới hạn trong không gian gia đình dưới sự ràng buộc nghiêm ngặt của "Tam tòng tứ đức". Sự phân biệt đối xử này không chỉ tồn tại trong các thiết chế xã hội mà còn được phản ánh đậm nét trong văn học dân gian, đặc biệt là thể loại ca dao.

Hình tượng nam và nữ trong ca dao thường được khắc họa thông qua những định kiến giới sâu sắc. Người phụ nữ thường xuất hiện với thân phận lệ thuộc, cam chịu cảnh bất công trong hôn nhân ("Trai năm thê bảy thiếp / Gái chính chuyên một chồng"), trong khi nam giới được gắn với hình ảnh trượng phu gánh vác việc lớn ("Làm trai cho đáng nên trai / Phú Xuân đã trải, Đồng Nai đã từng"). Về mặt ngôn ngữ học, hiện tượng kì thị giới được thể hiện qua các phương tiện hình thức như hệ thống trường từ vựng, motif và phong cách diễn đạt. Đề tài khóa luận "Hình thức ngôn ngữ thể hiện sự kì thị giới trong ca dao Việt Nam" của tác giả Tống Thị Huệ (ngành Ngữ văn, Khoa Ngữ văn & Công tác Xã hội, Trường Đại học Quảng Nam, 2016) được thực hiện nhằm giải mã hiện tượng kì thị giới dưới góc độ hình thức ngôn ngữ học.

Khóa luận xác định các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể sau:

  1. Khảo sát, thống kê và chỉ ra các biểu hiện của sự kì thị giới trong ca dao Việt Nam.
  2. Phân tích các khía cạnh hình thức ngôn ngữ thể hiện sự kì thị giới, bao gồm: hệ thống trường từ vựng - ngữ nghĩa, các motif ngôn ngữ và nét khác biệt trong phong cách ngôn ngữ của mỗi giới.
  3. Làm rõ tư tưởng, tình cảm và quan niệm định kiến của nhân dân lao động thời xưa đối với nam giới và nữ giới thông qua ngữ liệu ca dao.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Hiện tượng kì thị giới thể hiện qua các phương tiện và hình thức ngôn ngữ trong ca dao Việt Nam.
  • Phạm vi ngữ liệu: Khảo sát và trích xuất ngữ liệu từ 02 tuyển tập ca dao lớn:
    • Nguyễn Cừ (Chủ biên, 2001), Tuyển tập tục ngữ - ca dao Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.
    • Vũ Ngọc Phan (2004), Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam, NXB Văn học, Hà Nội.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được xây dựng trên nền tảng lý thuyết ngôn ngữ học ngữ nghĩa, phong cách học và lý thuyết giới:

  • Lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa: Tiếp thu quan điểm của các nhà ngôn ngữ học thế giới (M. Pokrovxkij, Osthoff, F. de Saussure, J. Trier, Ch. Bally) và hệ thống phân loại của Giáo sư Đỗ Hữu Châu. Khóa luận sử dụng khung 4 loại trường nghĩa:
    • Trường nghĩa dọc (quan hệ hệ hình): Trường nghĩa biểu vật (tập hợp từ đồng nghĩa về ý nghĩa biểu vật dựa trên danh từ gốc khái quát) và trường nghĩa biểu niệm (tập hợp từ có chung cấu trúc biểu niệm).
    • Trường nghĩa ngang (quan hệ ngữ đoạn): Trường nghĩa tuyến tính (kết hợp chuỗi ngữ pháp - ngữ nghĩa chấp nhận được) và trường liên tưởng (tập hợp từ cố định bằng ý nghĩa liên hội quanh từ trung tâm).
    • Giá trị biểu đạt của trường từ vựng được xác định ở hai phương diện: biểu đạt hiện thực khách quan và biểu đạt tư tưởng, tình cảm của chủ thể sáng tạo.
  • Lý thuyết về motif: Tiếp cận motif như đơn vị hạt nhân cốt truyện hoặc yếu tố cấu thành mang tính lặp đi lặp lại trong văn học dân gian (các motif ẩn dụ như con thuyền, bến đợi, dải yếm, thân em...).
  • Phong cách ngôn ngữ giới tính: Khái niệm phong cách chức năng và phong cách cá nhân gắn với yếu tố giới tính (sự khác biệt trong việc lựa chọn từ ngữ, mức độ dứt khoát, lối nói khẳng định/phủ định, việc sử dụng thán từ và tình thái từ).

Khóa luận vận dụng phối hợp 5 phương pháp nghiên cứu:

  1. Phương pháp thống kê: Thu thập, phân loại và đếm tần số xuất hiện của các đơn vị từ vựng, hình thức ngôn ngữ thể hiện định kiến giới trong nguồn ngữ liệu.
  2. Phương pháp phân loại: Phân chia các đơn vị ngữ liệu thành các trường từ vựng cụ thể (định danh, xưng hô, trang phục - đồ dùng, hình thức, tính cách, hành động).
  3. Phương pháp phân tích: Mổ xẻ ngữ nghĩa và ngữ cảnh sử dụng của từng câu ca dao cụ thể để làm sáng tỏ bản chất kì thị giới.
  4. Phương pháp so sánh: Đối sánh các chỉ số về số lượng từ, tần số xuất hiện và sắc thái biểu cảm giữa nam giới và nữ giới; so sánh kết quả với các công trình nghiên cứu đi trước.
  5. Phương pháp tổng hợp: Khái quát hóa các quy luật ngôn ngữ và quan niệm xã hội từ kết quả phân tích dữ liệu.

Nội dung chính theo từng chương

Khóa luận được kết cấu thành 2 chương nội dung chính:

Chương 1. Giới thuyết về những vấn đề liên quan đến đề tài

Chương này tập trung xây dựng cơ sở lý luận cho toàn bộ đề tài:

  • Trình bày lịch sử nghiên cứu vấn đề giới trong ngôn ngữ học (các công trình của Nguyễn Văn Khang, Quang Minh, Nguyễn Thị Hồng Sanh, Lương Thị Hiền), giới trong văn học (Hồ Khánh Vân, Phan Thị Nhàn, Trần Đình Sử, Trần Ngọc Hiếu, Lanser, Huỳnh Thị Thu Hậu, Đỗ Thị Kim Liên) và giới trong ca dao (Vũ Ngọc Phan, Phạm Thu Yến, Đinh Gia Khánh, Triều Nguyên, Lê Thị Nguyệt, Nguyễn Hữu Thọ).
  • Trình bày hệ thống khái niệm về trường từ vựng, phân loại 4 loại trường nghĩa theo Đỗ Hữu Châu và làm rõ hai giá trị biểu đạt cơ bản của trường từ vựng.
  • Giới thuyết về khái niệm motif trong văn học dân gian và các biểu tượng quen thuộc trong ca dao.
  • Phân tích khái niệm phong cách ngôn ngữ và đặc trưng phong cách ngôn ngữ theo giới tính trong giao tiếp xã hội cũng như trong ca dao truyền thống.

Chương 2. Hình thức ngôn ngữ thể hiện sự kì thị giới trong ca dao Việt Nam

Chương 2 là phần trọng tâm chứa đựng các kết quả khảo sát định lượng và phân tích định tính. Tác giả đã thống kê được tổng cộng 341 từ vựng thuộc 6 trường từ vựng biểu hiện sự kì thị giới:

STT Trường từ vựng theo mục đích sử dụng Số lượng từ Tỉ lệ (%)
1 Trường từ vựng định danh cho mỗi giới 53 15,5%
2 Trường từ vựng xưng hô cho mỗi giới 20 5,9%
3 Trường từ vựng chỉ trang phục, đồ dùng cho mỗi giới 51 15,0%
4 Trường từ vựng chỉ hình thức cho mỗi giới 55 16,0%
5 Trường từ vựng chỉ tính cách cho mỗi giới 23 6,74%
6 Trường từ vựng chỉ hành động cho mỗi giới 139 40,8%
Tổng Toàn bộ 6 trường từ vựng khảo sát 341 100%

Nội dung phân tích chi tiết từng trường từ vựng và phương tiện ngôn ngữ bao gồm:

1. Trường từ vựng định danh

  • Đối với nữ giới: Khảo sát được 28 từ định danh với 107 lần xuất hiện. Từ có tần số cao nhất là "gái" (35 lần, chiếm 32,7%), tiếp đến là "con gái" (9 lần), "đàn bà" (8 lần), "bà" (8 lần), "thục nữ" (7 lần), "nạ dòng" (6 lần)... Trong 28 từ định danh nữ, có tới 18 từ mang sắc thái tiêu cực, 8 từ trung tính và chỉ có 2 từ tích cực.
  • Đối với nam giới: Có 27 từ định danh với 87 lần xuất hiện. Từ "trai" xuất hiện nhiều nhất (31 lần, chiếm 37,9%), tiếp theo là "trai tơ" (7 lần), "sãi" (7 lần), "ông thầy" (5 lần), "đàn ông" (5 lần)... Trong 27 từ định danh nam, có 8 từ mang nghĩa tích cực, 15 từ trung tính và chỉ có 4 từ mang nghĩa tiêu cực (chủ yếu gắn với nghề nghiệp bị xem nhẹ như "thằng bán than", "thằng thuyền chài").
  • Biểu hiện kì thị: Tác giả dân gian định danh nữ giới tỉ mỉ, xét nét theo từng giai đoạn và tình trạng hôn nhân/gia đình (gái tơ, gái chưa chồng, gái có chồng, gái chê chồng, gái góa, gái không con, gái một con...). Người phụ nữ không có con bị miệt thị nặng nề ("Gái có con như bồ hòn có rễ / Gái không con như bè ngổ trôi sông"). Ngược lại, nam giới ít bị ràng buộc bởi tình trạng hôn nhân ("trai không vợ" chỉ xuất hiện 1 lần).

2. Trường từ vựng xưng hô

  • Phân bố hệ thống từ xưng hô: nữ giới sử dụng riêng 10 từ (353 lần xuất hiện), nam giới sử dụng riêng 7 từ (376 lần xuất hiện), và 9 từ được cả hai giới sử dụng chung (341 lần xuất hiện).
  • Ở nữ giới: Ngôi thứ nhất xuất hiện 111 lần (từ "em" chiếm 140 lần trong toàn bộ ngữ cảnh xưng gọi, "thiếp" chiếm 62 lần); ngôi thứ hai xuất hiện 208 lần (từ "nàng" 49 lần, "cô" 32 lần, "bậu" 18 lần). Nữ giới thường tự đặt mình ở vị trí khiêm nhường thông qua hành động "xưng khiêm, hô tôn" bằng các từ "em", "thiếp" mang dấu ấn của thân phận nhỏ bé, thứ thiếp. Khi dùng đại từ "tôi" (42 lần), người phụ nữ bộc lộ thái độ hờn giận hoặc ý thức khẳng định cái tôi cá nhân.
  • Ở nam giới: Ngôi thứ hai được sử dụng nhiều nhất (245 lần, chiếm 65,1% gồm "anh" 131 lần, "chàng" 105 lần, "ông" 9 lần); ngôi thứ nhất chiếm 104 lần (27,6% gồm "anh" 98 lần, "qua" 6 lần); ngôi thứ ba chiếm 27 lần (từ "cha" 24 lần). Lời xưng hô của nam giới chủ yếu nhằm mục đích trêu ghẹo, tỏ tình hoặc khẳng định quyền uy.

3. Trường từ vựng chỉ trang phục, đồ dùng

  • Nữ giới gắn liền với các vật dụng làm đẹp, trang phục mang tính tạo cớ giao duyên nhưng cũng chịu định kiến đánh giá phẩm hạnh: khăn (khăn đội đầu, khăn vuông, khăn thương nhớ), yếm (yếm trắng, yếm thắm, yếm đào), nón (nón thúng quai thao, nón rách), gương, lược, xà tích.
  • Nam giới gắn với các vật dụng biểu trưng cho chí khí, trách nhiệm xã hội (gươm, kiếm) hoặc các đồ dùng sinh hoạt đơn giản (khố, áo rách lỗ bằng sàng).

4. Trường từ vựng chỉ hình thức

  • Sự chênh lệch rõ rệt: Nữ giới có 44 từ chỉ hình thức với 121 lần xuất hiện (chiếm 80% tổng số từ chỉ hình thức); nam giới chỉ có 11 từ với 33 lần xuất hiện (chiếm 20%).
Tiêu chí so sánh Nữ giới Nam giới
Số lượng từ ngữ 44 từ (80%) 11 từ (20%)
Tần số xuất hiện 121 lần 33 lần
Các từ xuất hiện nhiều Tay (12 lần), Mồm (10 lần), Chân (8 lần), Da (7 lần), Răng đen (7 lần), Con mắt (6 lần)... Mắt (6 lần), Tay (5 lần), Chân (5 lần), Lưng (4 lần), Rỗ (4 lần), Mình (3 lần)...
Đặc điểm miêu tả Săm soi chi tiết từ tóc, mặt, răng, miệng đến lườn, ngực, vú; quy chụp hình thức ra phẩm hạnh. Miêu tả khái quát, gắn với nét thanh tao, học thức và tướng mạo thành đạt.
  • Biểu hiện kì thị: Tác giả dân gian đánh giá phẩm hạnh nữ giới thông qua ngoại hình ("Đàn bà chân thẳng ống đồng / Khó con mà lại sát chồng nguy nan"). Cùng một nét ngoại hình, nam giới được nhìn nhận tích cực còn nữ giới bị đánh giá tiêu cực ("Đàn ông ít tóc an nhàn / Đàn bà ít tóc dở dang duyên tình"; "Đàn ông trán dựng có tài / Đàn bà trán dựng lâu đài soi gương").

5. Trường từ vựng chỉ tính cách

  • Nữ giới có 16 từ (52 lần xuất hiện, chiếm 70% tổng trường tính cách); nam giới có 7 từ (19 lần xuất hiện, chiếm 30%).
  • Nữ giới: Có 9/16 từ mang nghĩa tiêu cực (lẳng lơ xuất hiện 9 lần - 17,5%, ngu 4 lần, dại 3 lần, ác nghiệt 2 lần, dữ 2 lần...). Các từ trung tính/tích cực như chính chuyên (7 lần), ghen (5 lần), khéo (5 lần) cũng mang định kiến xã hội khắt khe.
  • Nam giới: Có 5/7 từ mang nghĩa tích cực, tiêu biểu là từ khôn (11 lần, chiếm 57,9%), trung hiếu (2 lần), lịch sự (1 lần). Nam giới luôn được đề cao về năng lực trí tuệ và đạo đức ("Trai thời trung hiếu làm đầu / Gái thời tiết hạnh làm câu trau mình").

6. Trường từ vựng chỉ hành động

  • Nữ giới có 90 từ (375 lần xuất hiện, chiếm 63,1% số lượng từ chỉ hành động); nam giới có 51 từ (196 lần xuất hiện, chiếm 36,9%).
  • Nữ giới: Tần số cao nhất là thương (55 lần - 14,7%), xin (28 lần - 7,5%), thưa (16 lần - 4,3%), nhớ (16 lần), buồn (15 lần), sầu (15 lần), đợi chờ (14 lần), ngồi (13 lần), nuôi (10 lần), gánh vác (8 lần)... Các hành động gắn liền với công việc nội trợ, chăm sóc gia đình (giã gạo, thổi cơm, quét nhà, vá may, nuôi chồng) và tâm trạng đau khổ, chịu đựng, than thở.
  • Nam giới: Tần số cao gồm thương (19 lần - 10,5%), đi (18 lần - 9,2%), về (16 lần - 8,2%), ăn (14 lần - 7,1%), nhớ (12 lần), nằm (10 lần), say (10 lần), học (7 lần)... Hành động gắn với học hành, thi cử, lập thân (đọc sách, ngâm thơ, thi, cày bừa, buôn bán).

Kết quả và đóng góp

Kết quả chính

  1. Khóa luận đã chứng minh một cách tường minh hiện tượng bất bình đẳng giới được mã hóa sâu sắc trong hệ thống hình thức ngôn ngữ của ca dao Việt Nam thông qua 341 đơn vị từ vựng thuộc 6 trường nghĩa.
  2. Về mặt định lượng, tần số xuất hiện của các từ ngữ mô tả nữ giới luôn áp đảo nam giới ở các trường từ vựng hình thức (121 lần so với 33 lần), tính cách (52 lần so với 19 lần), hành động (375 lần so với 196 lần) và định danh (107 lần so với 87 lần).
  3. Về mặt định tính, ca dao bộc lộ định kiến giới theo hướng:
    • Áp đặt chuẩn mực khắt khe, xét nét ngoại hình và quy chụp phẩm hạnh đối với nữ giới; gắn nữ giới với không gian gia đình, sự cam chịu và các từ ngữ mang nghĩa tiêu cực.
    • Ưu ái, đề cao nam giới về trí tuệ (khôn), chí hướng (trung hiếu, học hành) và vị thế xã hội; giảm thiểu việc soi xét ngoại hình hay trách nhiệm gia đình.

Đóng góp của đề tài

  • Về phương diện lí thuyết: Hệ thống hóa và vận dụng thành công lý thuyết trường từ vựng - ngữ nghĩa của Đỗ Hữu Châu cùng các lý thuyết về phong cách ngôn ngữ giới tính vào việc giải mã văn bản văn học dân gian.
  • Về phương diện thực tiễn:
    • Cung cấp bảng phân loại, thống kê chi tiết về các trường từ vựng định danh, xưng hô, trang phục, hình thức, tính cách và hành động phản ánh vấn đề giới trong ca dao.
    • Tạo nguồn tư liệu tham khảo phục vụ trực tiếp cho việc nghiên cứu ngôn ngữ học xã hội, thi pháp ca dao và hỗ trợ giảng dạy phần ca dao dân ca trong chương trình Ngữ văn phổ thông trung học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Ngữ liệu khảo sát của khóa luận mới chỉ giới hạn trong phạm vi 02 tuyển tập ca dao của Nguyễn Cừ và Vũ Ngọc Phan, chưa bao quát toàn bộ kho tàng ca dao - dân ca của các vùng miền khác nhau trên cả nước. Việc phân tích chủ yếu tập trung vào cấp độ từ vựng - ngữ nghĩa, các phương diện cú pháp và ngữ dụng học chưa được triển khai sâu.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Mở rộng phạm vi khảo sát sang các thể loại văn học dân gian khác như tục ngữ, truyện cổ tích, chèo, tuồng cổ.
    • Thực hiện nghiên cứu so sánh đối chiếu biểu hiện kì thị giới trong ngôn ngữ ca dao Việt Nam với ca dao, dân ca của các quốc gia khác trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á.

Giá trị tham khảo

Công trình khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích đối với các nhóm đối tượng:

  • Sinh viên và học viên ngành Ngôn ngữ học, Văn học, Văn hóa học: Cung cấp mô hình kết hợp phương pháp ngôn ngữ học định lượng (thống kê ngữ liệu) với phân tích định tính văn học.
  • Giáo viên môn Ngữ văn cấp Trung học phổ thông: Cung cấp góc nhìn bổ trợ về mặt thi pháp ngôn ngữ và ý thức xã hội khi phân tích các bài ca dao than thân, ca dao yêu thương tình nghĩa trong chương trình giảng dạy.
  • Các nhà nghiên cứu về Giới (Gender Studies) và Ngôn ngữ học Xã hội (Sociolinguistics): Cung cấp các số liệu thực chứng về định kiến giới truyền thống được lưu giữ qua phương tiện ngôn ngữ dân gian.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu trường từ vựng và trường nào có số lượng từ lớn nhất?
Khóa luận khảo sát 6 trường từ vựng với tổng số 341 từ. Trong đó, trường từ vựng chỉ hành động chiếm số lượng lớn nhất với 139 từ (tỉ lệ 40,8%), tiếp theo là trường chỉ hình thức (55 từ, 16%), trường định danh (53 từ, 15,5%), trường trang phục - đồ dùng (51 từ, 15%), trường tính cách (23 từ, 6,74%) và trường xưng hô (20 từ, 5,9%).

2. Sự kì thị giới trong trường từ vựng chỉ hình thức được thể hiện qua các số liệu nào?
Trong tổng số 55 từ chỉ hình thức, từ ngữ dành cho nữ giới chiếm tới 44 từ (80%) với 121 lần xuất hiện, trong khi nam giới chỉ có 11 từ (20%) với 33 lần xuất hiện. Tác giả dân gian soi xét chi tiết từng bộ phận cơ thể phụ nữ (tay 12 lần, mồm 10 lần, chân 8 lần, răng đen 7 lần...) và dùng hình thức để quy kết phẩm hạnh, trong khi nam giới chỉ được miêu tả khái quát gắn với trí tuệ và công danh.

3. Đại từ xưng hô nào được nữ giới sử dụng nhiều nhất trong ca dao theo thống kê của tác giả?
Ở ngôi thứ nhất, từ "em" được sử dụng nhiều nhất với 140 lần xuất hiện, tiếp theo là từ "thiếp" với 62 lần xuất hiện (trên tổng số 208 lượt xuất hiện của ngôi thứ nhất ở nữ giới). Việc dùng các từ này thể hiện tâm thế "xưng khiêm, hô tôn", nhún nhường của người phụ nữ trong xã hội cũ.

4. Từ chỉ tính cách nào xuất hiện nhiều nhất ở nam giới và nữ giới trong ca dao?
Ở nữ giới, từ chỉ tính cách xuất hiện nhiều nhất là "lẳng lơ" (9 lần, chiếm 17,5%), tiếp đến là "chính chuyên" (7 lần, chiếm 13,5%). Ở nam giới, từ xuất hiện áp đảo là "khôn" (11 lần, chiếm 57,9% trên tổng số 19 lần xuất hiện của trường tính cách nam).


Kết luận

Khóa luận của tác giả Tống Thị Huệ đã nghiên cứu và làm sáng tỏ hiện tượng kì thị giới trong ca dao Việt Nam từ góc độ hình thức ngôn ngữ học. Thông qua phương pháp thống kê và phân tích ngữ nghĩa trên 341 đơn vị từ vựng thuộc 6 trường nghĩa, công trình đã chứng minh sự bất bình đẳng sâu sắc giữa nam và nữ trong quan niệm dân gian thời phong kiến. Kết quả nghiên cứu không chỉ đóng góp cứ liệu thực nghiệm cho lý thuyết ngôn ngữ học xã hội mà còn là tài liệu tham khảo có giá trị cho việc tiếp cận và giảng dạy ca dao truyền thống.