Tổng quan nghiên cứu

Khu vực Đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là tỉnh An Giang, đối mặt với thách thức địa chất phức tạp khi tầng đất bùn sét yếu có bề dày dao động từ 2 mét đến 30 mét, cùng mực nước ngầm nông cách mặt đất khoảng 1,5 mét. Hoạt động nạo vét khơi thông luồng lạch tại các sông rạch thành phố Long Xuyên tạo ra hàng triệu mét khối bùn thải có độ ẩm tự nhiên lên tới 54,4% và hệ số rỗng ban đầu 1,44. Việc loại bỏ khối lượng bùn này gây lãng phí lớn và áp lực nặng nề lên quỹ đất chứa thải, trong khi nguồn cát san lấp tự nhiên ngày càng khan hiếm và đắt đỏ.

Đề tài tập trung giải quyết bài toán gia cường đất bùn sét nạo vét sau đầm nén bằng vật liệu vải địa kỹ thuật không dệt, nhằm chuyển hóa bùn phế thải thành vật liệu đắp nền đạt chuẩn kỹ thuật. Mục tiêu trọng tâm là xác lập tương quan cường độ chịu lực thông qua thí nghiệm California Bearing Ratio hiện trường trên khuôn mẫu kích thước 90x90 centimet, đồng thời mô phỏng cơ chế làm việc trên phần mềm chuyên dụng Plaxis 2D.

Nghiên cứu được triển khai thực nghiệm tại thành phố Hồ Chí Minh và An Giang vào năm 2019, đóng góp giải pháp kỹ thuật cụ thể giúp nâng cao tối thiểu 20,1% cường độ CBR của nền đắp, đồng thời tối ưu hóa độ ẩm đầm nén ở mức 18,3% và dung trọng khô cực đại đạt 1,625 gam trên centimet khối. Kết quả mang ý nghĩa thực tiễn to lớn trong việc giảm giá thành xây dựng nền móng công trình giao thông và hạ tầng đô thị vùng Tây Nam Bộ.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết sức bền đất Mohr-Coulomb để phân tích tương tác ứng suất cắt và áp lực pháp tuyến trong môi trường đất dính gia cường. Các thông số cơ lý then chốt của mẫu đất bùn sét sau đầm chặt gồm góc ma sát trong phi đạt 29,00 độ và lực dính đơn vị c đạt 53,00 kilopascal.

Mô hình chịu tải cục bộ dựa trên nguyên lý tỷ số khả năng chịu tải California Bearing Ratio theo tiêu chuẩn TCVN 8821:2011 và ASTM D4429, đánh giá phản lực nén tại các độ sâu ép lún tiêu chuẩn 2,54 milimet tương ứng chỉ số CBR1 và 5,08 milimet tương ứng chỉ số CBR2.

Cơ chế màng căng của vải địa kỹ thuật không dệt có mô đun đàn hồi 50 kilonewton trên mét và cường độ chịu kéo đứt 9 kilonewton trên mét được giải thích qua lý thuyết phân bố lại ứng suất dưới tải trọng thẳng đứng. Các khái niệm cốt lõi bao gồm giới hạn chảy 51,33%, giới hạn dẻo 24,67%, chỉ số dẻo 26,66% và phân loại đất sét dẻo thấp theo hệ thống thống nhất USCS.

Mô hình phần tử hữu hạn phi tuyến Plaxis 2D với trạng thái thoát nước drained, hệ số Poisson 0,35 và hệ số tương tác mặt tiếp xúc Rinter bằng 1,0 được tích hợp nhằm tính toán trường ứng suất kéo nội tại của lớp vải.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu thực nghiệm được thu thập từ mẫu bùn sét nạo vét lòng rạch Long Xuyên, phơi khô, nghiền nhỏ và ủ ẩm đồng đều trong 72 giờ tại độ ẩm tối ưu 18,3%. Cỡ mẫu thực nghiệm bao gồm 4 kịch bản quy mô lớn với khối lượng đất chế bị từ 155,6 kilogam đến 622,4 kilogam, đầm nén theo từng lớp dày 5 centimet bằng mức năng lượng tiêu chuẩn 600 kilojoule trên mét khối theo quy trình 22TCN 333:06.

Phương pháp chọn mẫu thực nghiệm hiện trường được bố trí đối xứng tại 5 vị trí thử nghiệm trên bề mặt khuôn 90x90 centimet, đảm bảo khoảng cách giữa các điểm nén đạt 25 centimet, vượt mức yêu cầu khoảng cách tối thiểu 17 centimet để triệt tiêu ảnh hưởng biên.

Lý do lựa chọn phương pháp thí nghiệm CBR hiện trường kết hợp mô phỏng số Plaxis 8.2 là nhằm ghi nhận trực tiếp sức kháng nén uốn trong điều kiện thực địa với tốc độ gia tải 1,27 milimet trên phút, đồng thời bóc tách chuẩn xác độ lớn lực kéo trong vải địa kỹ thuật, một đại lượng không thể đo trực tiếp bằng đồng hồ đo lực cơ học ngoài công trường. Quá trình thu thập và phân tích dữ liệu hoàn tất trong giai đoạn từ tháng 3 đến tháng 7 năm 2019.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, việc bổ sung một lớp vải địa kỹ thuật không dệt giúp cải thiện vượt bậc sức chịu tải của nền đất bùn sét, làm tăng chỉ số CBR thực nghiệm tối thiểu 20,1% so với mẫu đất đối chứng không gia cường ở cùng điều kiện đầm nén.

Thứ hai, khoảng cách bố trí lớp vải địa kỹ thuật có tính quyết định đến hiệu quả chịu lực; khi chiều dày lớp đất phủ phía trên giảm từ 20 centimet xuống 10 centimet, chỉ số CBR ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất do lớp vải nằm trọn trong vùng bóng ứng suất hữu hiệu phát sinh dưới mũi chùy xuyên.

Thứ ba, kết quả mô phỏng số trên Plaxis 2D chứng minh mối quan hệ tuyến tính chặt chẽ giữa mức tăng chỉ số CBR và độ lớn lực kéo huy động trong tấm vải địa kỹ thuật khi chùy xuyên dịch chuyển từ 2,54 milimet đến 5,08 milimet.

Thứ tư, khi so sánh với các cấu trúc đệm phụ trợ, việc kết hợp vải địa kỹ thuật với lớp đệm cát dày 40 milimet có thể đẩy mức tăng CBR lên tới 53,9%, tuy nhiên trạng thái ngập nước bão hòa hoàn toàn có thể làm suy giảm cục bộ đến 97% cường độ bề mặt nếu không có biện pháp thoát nước kịp thời.

Thảo luận kết quả

Sự gia tăng cường độ của hệ đất đắp bùn sét gia cường bắt nguồn từ cơ chế khóa ngàm ma sát và lực căng màng của vải địa kỹ thuật không dệt có độ giãn dài khi đứt 50% cùng hệ số thấm 60 nhân 10 mũ trừ 3 mét trên giây. Khi tải trọng thẳng đứng tác dụng, lớp đất có xu hướng dịch chuyển ngang và cắt trượt, kích hoạt lực kéo trong vải để ghìm giữ biến dạng hông, đồng thời cấu trúc sợi xơ xốp hỗ trợ tiêu tán nhanh áp lực nước lỗ rỗng sinh ra trong quá trình chịu tải.

Hiện tượng chỉ số CBR đạt cực đại khi chiều dày lớp đất mỏng 10 centimet hoàn toàn tương đồng với các kết luận của các nghiên cứu quốc tế trước đây về tỷ lệ độ sâu tối ưu trên đường kính chùy xuyên xấp xỉ 1,0.

Về mặt biểu diễn trực quan, toàn bộ dữ liệu quan hệ phi tuyến giữa áp lực nén và độ sâu ép lún từ 0 đến 10 milimet được mô tả chi tiết qua biểu đồ đường cong ứng suất biến dạng, kết hợp cùng bảng so sánh sai số giữa áp lực chùy xuyên thực nghiệm và mô phỏng số, giúp khẳng định độ tin cậy tuyệt đối của giải pháp tính toán.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, chuẩn hóa quy trình xử lý đất bùn nạo vét tại các trạm tập kết công trường bằng phương pháp phơi khô tự nhiên để hạ độ ẩm từ 54,4% xuống dải độ ẩm tối ưu 18,3% với sai số cho phép không quá 1,5%, tiến hành đầm nén đạt độ chặt K95 đến K98 trước khi đưa vào khai thác; quy trình do các nhà thầu thi công san lấp thực hiện với chu kỳ xử lý từ 7 đến 10 ngày cho mỗi mẻ đắp.

Thứ hai, áp dụng giải pháp thiết kế phân tầng lớp gia cường với cự ly chiều dày lớp đất bùn sét từ 10 centimet đến 15 centimet cho mỗi lớp vải địa kỹ thuật không dệt có cường độ chịu kéo lớn hơn hoặc bằng 9 kilonewton trên mét; đơn vị tư vấn thiết kế giao thông cần đưa thông số này vào hồ sơ thiết kế cơ sở từ quý 1 năm 2020 nhằm tối ưu hóa 100% khả năng huy động lực kéo màng.

Thứ ba, kết hợp bổ sung lớp đệm cát thoát nước dày 40 milimet kẹp giữa các lớp vải địa kỹ thuật tại những vị trí có cao độ mực nước ngầm nông dưới 1,5 mét nhằm mục tiêu duy trì chỉ số CBR ổn định trên 50% và triệt tiêu hoàn toàn nguy cơ sụt giảm 97% cường độ do ngập bão hòa; giải pháp do các Ban Quản lý dự án hạ tầng giao thông đô thị chỉ đạo triển khai thí điểm trong 6 tháng.

Thứ tư, tích hợp phần mềm mô phỏng Plaxis 2D vào quy trình thẩm định sức chịu tải của nền đất gia cường trước khi nghiệm thu tải trọng hiện trường; các kỹ sư địa kỹ thuật cần cập nhật thông số mô đun cắt và góc ma sát trong phi 29 độ để dự báo biến dạng lún dài hạn cho toàn bộ vòng đời công trình.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm kỹ sư thiết kế công trình giao thông và hạ tầng đô thị có thể ứng dụng trực tiếp các công thức tính toán chỉ số CBR thực tế và mô hình phân bố ứng suất kéo để thiết kế các lớp kết cấu áo đường mềm trên nền đất yếu, giúp tăng hệ số ổn định trượt tổng thể thêm 20,1% đến 53,9%.

Nhóm nhà thầu thi công nền móng và san lấp mặt bằng có được cẩm nang kỹ thuật thực chiến về quy trình lu lèn đất bùn nạo vét theo tiêu chuẩn đầm Proctor, hỗ trợ cắt giảm 30% đến 40% chi phí mua vật liệu cát san lấp thương phẩm nhờ tái sử dụng nguồn bùn sẵn có tại địa phương.

Nhóm nghiên cứu, giảng viên và học viên sau đại học chuyên ngành Kỹ thuật Xây dựng dân dụng, công nghiệp và Địa kỹ thuật công trình có thể kế thừa bộ thông số đầu vào mô phỏng Plaxis 2D gồm góc ma sát 29 độ, lực dính 53 kilopascal và hệ số tương tác Rinter bằng 1,0 để mở rộng nghiên cứu sang các cấu trúc gia cường phức hợp khác.

Nhóm cơ quan quản lý nhà nước về tài nguyên, môi trường và quy hoạch đô thị các tỉnh Đồng bằng sông Cửu Long có thêm cơ sở khoa học xác đáng để ban hành các quy định khuyến khích tái chế bùn thải nạo vét sông rạch, góp phần bảo vệ tài nguyên đất nông nghiệp và giảm thiểu ô nhiễm bãi thải.

Câu hỏi thường gặp

Tại sao cần phải phơi và kiểm soát độ ẩm của đất bùn nạo vét ở mức 18,3% trước khi tiến hành đầm nén?

Độ ẩm tự nhiên ban đầu của bùn nạo vét sông rạch Long Xuyên lên tới 54,4%, khiến đất ở trạng thái chảy dẻo với hệ số rỗng 1,44. Việc phơi đất về độ ẩm tối ưu 18,3% theo tiêu chuẩn 22TCN 333:06 là điều kiện bắt buộc để đạt được dung trọng khô lớn nhất 1,625 gam trên centimet khối, tạo nền tảng liên kết hạt chặt chẽ giúp phát huy tối đa lực dính đơn vị 53 kilopascal.

Vải địa kỹ thuật không dệt có cường độ kéo 9 kilonewton trên mét đóng vai trò như thế nào trong việc tăng cường độ chịu nén CBR?

Vải địa kỹ thuật không dệt hoạt động như một màng liên kết ứng suất kéo uốn dẻo dai với độ giãn dài 50%. Khi đầu chùy xuyên truyền áp lực ép lún 2,54 milimet, lớp vải lập tức tiếp nhận ứng suất cắt hông, ngăn chặn sự dịch chuyển trượt trồi của các hạt sét, giúp chỉ số CBR hiện trường tăng trưởng 20,1% so với đất thuần túy.

Độ dày tối ưu của lớp đất bùn sét phủ trên lớp vải gia cường trong thí nghiệm CBR là bao nhiêu?

Kết quả thực nghiệm trên các độ dày 10 centimet, 15 centimet và 20 centimet cho thấy bề dày 10 centimet mang lại giá trị CBR cao nhất. Nguyên nhân do lớp vải nằm sát đáy chùy xuyên trong phạm vi bán kính ảnh hưởng ứng suất tập trung, giúp huy động lực căng của sợi vải nhanh nhất trước khi đất nền đạt trạng thái phá hoại cắt.

Tại sao phải tiến hành nén CBR tại 5 điểm độc lập trên khuôn thí nghiệm kích thước 90x90 centimet?

Kích thước khuôn 90x90 centimet cho phép bố trí 5 điểm thử nghiệm với khoảng cách tối thiểu giữa các điểm là 25 centimet, lớn hơn quy chuẩn 17 centimet của ASTM D4429. Việc lấy giá trị trung bình từ 5 điểm độc lập giúp triệt tiêu hoàn toàn các sai số ngẫu nhiên do tính không đồng nhất cục bộ của mẫu đất đầm nén hiện trường.

Mô hình số Plaxis 2D đóng vai trò gì mà thí nghiệm CBR ngoài hiện trường không thể thay thế được?

Thí nghiệm CBR hiện trường chỉ cung cấp giá trị áp lực nén mặt ngoài ứng với các độ sâu lún 2,54 milimet và 5,08 milimet. Mô hình Plaxis 2D giúp phân tích ngược để bóc tách chính xác trường lực kéo nội tại sinh ra trong từng đoạn vải địa kỹ thuật, làm sáng tỏ nguồn gốc cơ học của mức tăng cường độ chịu lực.

Kết luận

Thứ nhất, công trình đã giải quyết thành công bài toán tái chế bùn sét nạo vét kênh rạch Long Xuyên có độ ẩm 54,4% thành vật liệu đắp nền đạt chuẩn dung trọng khô 1,625 gam trên centimet khối.

Thứ hai, chứng minh thực nghiệm khẳng định vải địa kỹ thuật không dệt gia tăng tối thiểu 20,1% cường độ CBR của đất bùn sét sau đầm chặt.

Thứ ba, xác định quy luật bề dày lớp đất gia cường tỷ lệ nghịch với sức kháng uốn nén, trong đó lớp đắp 10 centimet mang lại hiệu quả chịu lực cao nhất.

Thứ tư, thiết lập thành công mô hình phần tử hữu hạn Plaxis 2D để định lượng chính xác lực kéo huy động trong vải tương ứng với từng cấp tải trọng CBR.

Thứ năm, tạo tiền đề vững chắc để triển khai ứng dụng công nghệ gia cường đất bùn tại các dự án giao thông Đồng bằng sông Cửu Long giai đoạn 2020 đến 2025.

Các chủ đầu tư và đơn vị tư vấn hãy áp dụng ngay quy trình đầm nén kết hợp vải địa kỹ thuật này vào các dự án san lấp hạ tầng thực tế để tối ưu hóa chi phí và bảo vệ môi trường bền vững.