Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG BIỆN PHÁP THI CÔNG CỌC KHOAN NHỒI VÀ TƯỜNG BARRET Ở NƯỚC TA, NHỮNG TỒN TẠI VÀ YÊU CẦU ĐẶT RA 1. Tổng quan về các phương pháp xử lý nền Móng cọc đã được sử dụng rất sớm từ khoảng 1200 năm trước, những người dân của thời kỳ đồ đá mới Thụy Sỹ đã biết sử dụng các cọc gỗ cắm xuống các hồ nông để xây dựng nhà trên các hồ cạn (Sower, 1979). Ngoài ra, người dân đã biết sử dụng các vật liệu có sẵn như thân cây gỗ đóng thành hàng cọc để làm tường chắn đất, dùng thân cây, cành cây để làm móng nhà. Ngày nay, cùng với tiến bộ về khoa học kỹ thuật nói chung móng cọc ngày càng được cải tiến, hoàn thiện, đa dạng về chủng loại, cũng như phương pháp thi công, phù hợp với yêu cầu cho từng loại nền móng công trình.
Hiện nay, do khoa học phát triển nên có rất nhiều phương pháp được áp dụng vào việc xử lý nền đất yếu bằng móng cọc, tuỳ vào từng loại công trình (cấp công trình, địa hình, địa chất, mật độ dân cư, các công trình liền kề …) mà ta chọn phương pháp xử lý nền đất yếu bằng loại cọc nào cho phù hợp. Sau đây là một số phương pháp chính : 1. Xử lý nền bằng cọc gỗ (hoặc tre): Được áp dụng với công trình chịu tải trọng nhỏ như (móng nhà dân, các tường kè nhỏ, cống nhỏ … ). Cọc gỗ (hoặc tre) chỉ sử dụng được ở những vùng đất luôn ẩm ướt, ngập nước để không bị mục nước, nếu đóng trong đất khô hoặc khô ướt thay đổi thì gỗ bị mục nát và làm nền đất yếu đi.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thuỷ 10 Cọc gỗ (hoặc tre) có ưu điểm là tận dụng được vật liệu địa phương, biện pháp thi công đơn giản, giá thành thấp, tiến độ thi công nhanh, thường được người dân sử dụng để xử lý nền khi làm nhà ở 1. Xử lý nền bằng cọc cát: Cọc cát là một giải pháp xử lý nền được áp dụng phổ biến đối với các trường hợp công trình có tải trọng không lớn trên địa tầng có dạng cơ bản với chiều dày lớp đất yếu tương đối lớn. Cọc cát có một số đặc điểm sau: Có tác dụng làm cho độ rỗng, độ ảm của nền giảm đi, trọng lượng thể tích, môdun biến dạng, lực dính và góc ma sát trong tăng lên do vậy biến dạng của nền giảm và cường độ nền tăng. Khi xử lý nền bằng cọc cát nền đất được nén chặt lại, do sức chịu tải của nền tăng lên, độ lún và biến dạng không đồng đều của nền đất dưới đế móng các công trình giảm đi một cách đáng kể.
Dưới tác dụng của tải trọng, cọc cát và vùng đất được nén chặt xung quanh cọc cùng làm việc đồng thời, đất được nén chặt đều trong khoảng giữa các cọc. Khi dùng cọc cát quá trình cố kết của nền đất diễn biến nhanh hơn nhiều so với nền đất thiên nhiên hoặc nền đất dùng cọc cứng. Khi trong nền có cọc cát thì ngoài tác dụng nén chặt đất, còn làm việc như các giếng cát thoát nước, nước trong đất có điều kiện thoát ra nhanh theo chiều dài cọc dưới tác dụng của tải trọng ngoài, do đó cải thiện được tình hình thoát nước của nền đất, điều này là không thể có được đối với nền đất thiên nhiên hoặc là đối với nền có sử dụng các loại cọc cứng. Phần lớn độ lún của nền đất có cọc cát thường kết thúc trong quá trình thi công do đó tạo điều kiện cho công trình mau chóng đạt được đến giới hạn ổn định.
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thuỷ 11 Vật liệu dùng cọc cát rất thuận lợi, dồi dào và rẻ hơn nhiều so với các loại vật liệu làm các loại cọc cứng như: gỗ, thép, bê tông, bê tông cốt thép và không bị ăn mòn nếu nước ngầm có tính xâm thực. Về mặt thi công, cọc cát có phương pháp thi công tương đối đơn giản, không đòi hỏi thiết bị phức tạp. Ở Việt Nam cọc cát đã được áp dụng vào các công trình lớn như: + Dự án mở rộng đường Láng – Hoà Lạc đoạn qua các huyện Từ Liêm, Quốc Oai, Thạch Thất, thành phố Hà Nội. + Dự án đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh – Trung Lương đoạn nối từ Tân Tạo đi chợ đệm (KM0+800 đến LM8+200).
+ Dự án xử lý nền các nhà kho chứa sét của nhà máy xi măng Cái Lân, thị xã Cẩm Phả, tỉnh Quảng Ninh. Hiện nay hàng loạt các đường cao tốc liên tỉnh đang sử dụng rất thành công theo phương pháp này. Xử lý nền bằng cọc xi măng đất (cọc trộn dưới đất sâu). Cọc xi măng đất là một phương pháp mới dùng để gia cố nền đất yếu, nó sử dụng xi măng, vôi … để làm chất đóng rắn, nhờ vào máy trộn dưới sâu để trộn cưỡng bức đất yếu với chất đóng rắn (dung dịch hoặc dạng bột), lợi dụng một loạt các phản ứng hoá học - vật lý xảy ra giữa chất đóng rắn với đất, làm cho đất mềm đóng rắn lại thành một thể cọc có tính chỉnh thể, tính ổn định và có cường độ nhất định.
Phương pháp này thích hợp với các loại đất được hình thành từ các nguyên nhân khác nhau như đất sét bão hoà, bão hoà bùn nhão, đất bùn, đất sét và đất sét bột … Độ sâu gia cố từ 50- :-60m nhưng áì hiệu quả nhất cho độ sâu gia cố từ 15- :-20m và loại đất yếu khoáng vật đất sét có chứa đá cao lanh, đá cao lanh nhiều nước và đá măng tô thì hiệu quả tương đối cao, gia cố loại Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thuỷ 12 đất tính sét có chứa đá si lic và hàm lượng chất hữu cơ cao, độ trung hoà pH tương đối thấp thấp. Cọc xi măng đất được áp dụng rộng rãi trong xử lý nền móng và nền đất yếu cho các công trình: Xây dựng giao thông,Thuỷ lợi, Sân bay, Bến cảng … làm tường hào chống thấm cho đê đập, sữa chữa thấm mang cống và đáy cống, gia cố đất xung quanh đường hầm, ổn định tường chắn, chống trượt cho mái dốc, gia cố nền đường, mố cầu dẫn … Phương pháp thi công nhanh, tiết kiệm thời gian thi công đến 50% do không phải chờ đúc cọc và đạt đủ cường độ, kỹ thuật thi công không phức tạp, không có yếu tố rủi ro cao. Hiệu quả kinh tế cao, giá thành hạ hơn nhiều so với án cọc đóng, rất thích hợp cho công tác xử lý nền, xử lý móng cho các công trình ở các khu vực nền đất yếu như bãi bồi, ven sông, ven biển. Thi công được trong điều kiện mặt bằng chật hẹp, mặt bằng ngập nước.
Xử lý nền bằng cọc bê tông đúc sẵn. Cọc bê tông đúc sẵn có hai loại: Cọc bê tông đúc sẵn thông thường và cọc bê tông đúc sẵn dự ứng lực kéo trước. cọc thường có hình vuông, cạnh cọc có kích thước 0,1 đến 1,0m. Ở Việt Nam hay dùng kích thước 0,2 đến 0,4m, mác bê tông thường được dùng cho cọc là 250- :-300 Kg/cm2, còn với cọc bê tông dự ứng lực thường dùng 350- :-450 Kg/cm2.
Ở Việt Nam hiện nay phương pháp xử lý nền bằng cọc đóng được dùng rất phổ biến, nó được áp dụng cho những công trình có tải trọng không lớn, chiều sâu lớp đất yếu không quá sâu như nhà dân có chiều cao <5 tầng, móng trạm bơm, cống tưới tiêu có qui mô lớn, móng cầu có tải trọng nhỏ … Chính vì tính ưu việt của cọc bê tông cốt thép mà hiện nay ở Việt Nam có rất nhiều Công ty sản xuất cấu kiện bê tông đúc sẵn với chất lượng, kích cỡ rất đa dạng. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thuỷ 13 Phương pháp tính toán đã được nhiều tổ chức, cơ quan viết các phần mềm chuyên dụng để dùng tính toán cho cọc bê tông cốt thép đúc sẵn. Biện pháp thi công, hiện nay có khá nhiều biện pháp thi công cọc bê tông cốt thép đúc sẵn với các loại máy móc thiết bị đa dạng. Vì vậy việc thi công cọc bê tông cốt thép đúc sẵn không gặp nhiều khó khăn, tốc độ thi công nhanh, đảm bảo diều kiện kinh tế kỹ thuật.
Xử lý nền bằng cọc nhồi. Cọc nhồi được giới thiệu ở Việt Nam vào năm 1990, kích thước phổ biến (1-:-2)m, chiều sâu (20 -:-70)m. Cọc khoan nhồi hiện nay được ứng dụng khá phổ biến ở Việt Nam, nó thường được sử dụng để gia cố nền đất yếu có chiều sâu và tải trọng công trình tương đối lớn như các chưng cư cao tầng, các công trình công cộng có chiều cao lớn và tải trọng lớn, địa chất nền phức tạp và các cầu đường bộ mà các phương pháp khác như cọc gỗ, cọc thép, cọc bê tông cốt thép, cọc xi măng đất hay cọc cát đều không thể giải quyết được. Hiện nay ở Việt nam có rất nhiều công ty mua lại các phần mềm tính toán nên trong thiết kế việc lựa chọn các đơn vị tư vấn cũng rất phong phú.
Thiết bị thi công nhỏ gọn, nên có thể thi công trong điều kiện xây dựng chật hẹp. Không gây ảnh hưởng bất kỳ nào đối với nền móng và kết cấu của các công trình kế cận. Độ an toàn trong thiết kế và thi công cao. Gía thành rẻ hơn các loại móng cọc bằng bê tông cốt thép nhờ vào khả năng chịu tải trên mối đầu cọc cao nên số lượng cọc trong móng giảm, do đài cọc nhỏ gọn nên tránh hiện tượng chịu tải trọng lệch tâm.
Tuy nhiên thi công cọc nhồi tạo nên môi trường sình lầy, dơ bẩn. Chất lượng cọc tuỳ thuộc vào trình độ và công nghệ đổ bê tông cọc. Xử lý nền bằng tường barret. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thuỷ 14 Tường barret thường được dùng cho những công trình có tải trọng rất lớn và các phương pháp xử lý nền khác đều không đáp ứng được yêu cầu.
Nó thường được dùng cho những toà nhà cao trên 40m, móng các cầu dẫn lớn … sức chịu tải trên mối đầu cọc từ 600- :-3600 tấn. Khái niệm chung về móng công trình Móng là phần công trình kéo dài xuống dưới đáy mặt đất làm nhiệm vụ chuyển tiếp giữa công trình bên trên với nền đất. Móng tiếp nhận tải trọng từ công trình và truyền vào đất nền thông qua các phần tiếp xúc của nó với đất.