CHƯƠNG I: GIỚI THIỆU VỀ OFDM VÀ OFDMA Chúng ta đang quen dần với việc liên lạc ở bất cứ mọi nơi, mọi lúc, và theo cách thức mà ta mong muốn muốn – mô hình thông tin liên lạc này đi kèm với nhu cầu ngày càng của truy cập di động không dây băng rộng. Do nhu cầu khách hàng ngày càng tăng, các nhà cung cấp dịch vụ truy cập mạng không dây và các nhà cung cấp dịch vụ mạng đang triển khai các hệ thống thế hệ tiếp theo có thể hỗ trợ dữ liệu tốc độ cao. Tổ chức ITU-R/IMT (The International Telecommunication Union – Radiocommunication Sector/International Mobile Telecommunications) đã định ra các yêu cầu cho các hệ thống thế hệ tiếp theo trong Báo cáo ITU-R M. Trong số các yêu cầu được quy định, hệ số hiệu suất phổ của cell η có lẽ là quan trọng nhất và được định nghĩa bằng tỷ lệ băng thông tổng cộng của tất cả người dùng sản phẩm của băng thông và số lượng tế bào.
Cụ thể hơn (cho cả đường lên hoặc đường xuống): = (1-1) Trong đó: • là số bit nhận được đúng (có chứa đơn vị dữ liệu dịch vụ chuyển tới layer 3) cho người dùng thứ I; • N là số lượng người dùng của hệ thống; • W là băng thông; • T là khoảng thời gian các bit được nhận; • M là số lượng cell Ba yêu cầu đầu tiên được liệt kê theo Báo cáo của ITU-R M.2134 bao gồm: • Hiệu suất phổ của cell là 2.2 bps/Hz/cell trên đường xuống và 1.4 bps/Hz/cell trên đường lên (mức phủ sóng đô thị cơ bản). Các giá trị trên giả định cấu hình 4 antenna phát và 2 antenna thu (4 × 2) trên đường xuống và 2 antenna phát, 4 antenna thu (2 × 4) trên đường lên. 12 • Tốc độ tối đa (lý thuyết) của hiệu suất phổ là 15 bps/Hz trên đường xuống và 6.75 bps/Hz trên đường lên. Các giá trị trên giả định cấu hình 4 antenna phát và 2 antenna thu (4 × 2) trên đường xuống và 2 antenna phát, 4 antenna thu (2 × 4) trên đường lên.
• Hỗ trợ của băng thông khả năng mở rộng lên đến 40 MHz; việc xem xét băng rộng lớn hơn như 100 MHz (có thể đạt được thông qua tần số kết hợp) được khuyến khích. Xét trường hợp băng thông 40 MHz, hai yêu cầu đầu tiên trở thành: • Thông lượng tổng là 88 Mbps/cell trên đường xuống và 56 Mbps/cell trên đường lên (mức phủ sóng đô thị cơ bản) • Tốc độ tối đa (lý thuyết) là 600 Mbps trên đường xuống và 270 Mbps trên đường lên. Khi các hệ thống không dây di động trên toàn thế giới phát triển để có thể hỗ trợ tốc độ nói trên, công nghệ cơ bản đang thay đổi từ trải phổ chuỗi trực tiếp (DSSS) sang ghép kênh phân chia tần số trực giao (OFDM) và truy nhập ghép kênh phân chia tần số trực giao (OFDMA). Hệ thống di động thế hệ thứ ba (3G) chủ yếu dựa trên DSSS, bao gồm : Evolution –Data Optimized (EV-DO) và High–Speed Packet Access (HSPA).
Phần lớn các hệ thống di động thế hệ thứ tư (4G) sử dụng OFDM và OFDMA, bao gồm cả WiMAX cho di động và Long Term Evolution (LTE). Sự phát triển của các mạng diện rộng không dây (WWANs) này là không đáng ngạc nhiên bởi chúng ta đã nhìn thấy một sự thay đổi tương tự trong mạng nội bộ không dây (WLAN). Trước đó, các phiên bản tốc độ thấp hơn của chuẩn IEEE 802.11b, sử dụng DSSS ở lớp vật lý. Sau đó, với phiên bản tốc độ cao hơn, bao gồm IEEE 802.11n, chủ yếu sử dụng OFDM.
Lý do cho một sự thay đổi như vậy là: OFDM cung cấp một số lợi thế nội tại trong việc cung cấp dữ liệu tốc độ cao, đặc biệt là trong môi trường fading đa đường, lựa chọn tần số. 13 OFDM và các biến thể của nó sẽ nhanh chóng trở thành công nghệ được lựa chọn trong thông tin không dây băng rộng. Chúng tôi bắt đầu với một định nghĩa của OFDM: OFDM là một phương pháp ghép kênh theo đó một luồng dữ liệu tốc độ cao sẽ được chia thành nhiều substreams suất thấp, sau đó được đồng thời truyền qua nhiều sóng mang con cùng một lúc, và dữ liệu thực hiện bởi các sóng mang con được gửi theo cách mà chúng không can thiệp với nhau trong miền tần số.1 Cơ bản về OFDM Mục tiêu của OFDM là truyền tải một dòng dữ liệu tốc độ cao sử dụng nhiều sóng mang con. OFDM khắc phục được những vấn đề của yêu cầu băng thông lớn trong FDM do các băng bảo vệ gây ra.
Thay vì sử dụng K bộ dao động nội (LO) và K bộ nhân trong điều chế, OFDM sử dụng một kỹ thuật toán học được gọi là Fourier rời rạc (DFT) để tạo ra các sóng mang con. Các sóng mang con được tạo ra theo cách này không cần băng bảo vệ bổ sung và có thể được đặt gần nhau hơn trong miền tần số. Các sóng mang con là trực giao với nhau trong khoảng một khoảng thời gian (trong chu kỳ của một ký tự OFDM). Ngoài ra, DFT và IDFT mang lại hiệu quả hơn nhờ việc loại bỏ các thành phần RF riêng biệt cho từng sóng mang con.1 mô tả một máy phát OFDM đơn giản.
Dòng dữ liệu tốc độ cao của các ký tự dữ liệu có tốc độ R s ký tự/giây, và mỗi ký tự dữ liệu có độ dài 1/Rs giây. Dòng ký tự dữ liệu tốc độc cao này bao gồm các khối ký tự dữ liệu phức, và mỗi khối chứa K ký tự dữ liệu phức. Vì có K sóng mang con được tạo ra, bộ chuyển đổi nối tiếp – song song chuyển đổi dòng dữ liệu tốc độ cao thành K dòng con tốc độ thấp riêng rẽ; mỗi dòng ký tự tốc độ thấp này có tốc độ R s/K ký tự/giây. Như vậy, bộ chuyển đổi nối tiếp–song song cấp phát các ký tự dữ liệu (tại đầu vào của nó) cho K dòng ký tự riêng biệt (tại đầu ra của nó).
Vì vậy, tại bất kỳ thời điểm nào, ở đầu ra của bộ chuyển đổi nối tiếp–song song luôn có một tập ký tự dữ liệu K song song với nhau. Máy phát OFDM[5] Tập các ký tự dữ liệu K song song đi qua bộ giải DFT (IDFT), biến đổi những ký tự dữ liệu K này. Sau khối IDFT, các ký tự K đã chuyển đổi trong K luồng con sau đó đi qua bộ chuyển đổi song song – nối tiếp (P – S) trở thành K ký tự đã chuyển đổi nối tiếp. Khối K ký tự đã chuyển đổi nối tiếp được gọi là một ký tự OFDM.
Tốc độ chuỗi ký tự OFDM ở đầu ra của bộ chuyển đổi song song – nối tiếp là Rs/K ký tự/giây, và mỗi ký tự OFDM có chu kỳ K/Rs giây. Chú ý rằng ký tự OFDM khác với ký tự dữ liệu.2 minh họa phổ của dòng tốc độ cao, các dòng con tốc độ thấp, và các tín hiệu truyền phát. Cụ thể, phổ của tín hiệu OFDM truyền đi được minh họa trong khoảng thời gian một ký tự OFDM. Trong tín hiệu OFDM truyền đi, các sóng mang con được phân tách ra để chúng xếp chồng lên nhau trong miền tần số, nhưng điểm không một sóng mang con rơi đúng vào đỉnh của hai sóng mang con liền kề.
Trong thực tế, tất cả các điểm không của mỗi sóng mang con đều rơi vào đỉnh của các sóng mang con liền kề. Vì OFDM khôi phục ký tự dữ liệu ở đỉnh của mỗi sóng 15 mang con, nên các sóng mang con trực giao này không ảnh hưởng với nhau, nên được gọi là FDM trực giao. Mặc dù Hình 1.2 cho thấy có K sóng mang con khác nhau, tất cả các sóng mang con K trong cùng khối này (cùng một ký tự OFDM ) được cấp phát cho duy nhất một người dùng. Nói cách khác, chỉ có duy nhất dữ liệu của một người dùng được truyền trong một ký tự OFDM.
phổ của luồng ký tự dữ liệu tốc độ cao, luồng ký tự dữ liệu tốc độ thấp và phổ của tín hiệu OFDM. Phổ của tín hiệu OFDM được thể hiện trong 1 chu kỳ ký tự OFDM. Chú ý rằng các điểm bằng 0 của sóng mang con thứ 2 rơi tại đỉnh của các sóng mang con lân cận 1 và 3.2 Ưu điểm của OFDM OFDM sử dụng nhiều sóng mang con băng hẹp, nó có ưu điểm chống chịu tốt với nhiễu ISI và fading đa đường, có thể điều chỉnh điều chế và mã hóa cho mỗi sóng mang con, và bộ cân bằng đơn giản. Ngoài ra, OFDM cung cấp hai lợi thế quan trọng hơn: • Điều chế OFDM ít phức tạp • OFDM có hiệu quả phổ cao hơn so với FDM thông thường 1.1 Điều chế ít phức tạp Máy phát OFDM không cần đến K khối chuyển đổi số – tương tự riêng biệt và K bộ điều biến RF riêng biệt (và các thành phần tương ứng trong máy thu).
Thay vào đó, điều chế OFDM có thể thực hiện đơn giản bằng khối IDFT số trong máy phát và khối DFT số trong máy thu. Trong thực tế, các khối biến đổi Fourier ngược nhanh (IFFT) và khối biến đổi Fourier nhanh (FFT) hiệu quả hơn được sử dụng thay cho IDFT và DFT để biến đổi nhanh K-điểm.2 Hiệu quả phổ Hình 1. Phổ của tín hiệu OFDM gồm 4 sóng mang con trong một chu kỳ ký tự OFDM[5] 17 So với FDM thông thường, OFDM đạt được hiệu quả phổ cao hơn. Vì OFDM không có các băng bảo vệ giữa các băng liền kề như FDM.3 minh họa bốn sóng mang con trên dải thông trong chy kỳ của một ký tự OFDM.
Các sóng mang con được sắp xếp theo cách các điểm không của mỗi sóng mang con trùng với đỉnh của các sóng mang con còn lại.3 Cơ bản về OFDMA Hình 1. Máy phát OFDMA[5] Trong khi OFDM cấp phát toàn bộ một khối (trong miền thời gian) cho một người dùng, kỹ thuật OFDMA là phương pháp cấp phát các nhóm sóng mang con (trong miền tần số) cho những người dùng khác nhau. Theo đó, nhiều người dùng có thể truy cập giao diện sóng cùng lúc. Ta biết rằng trong tất cả K sóng mang con OFDM được sử dụng để mang dữ liệu của duy nhất một người dùng.
OFDM cấp phát toàn bộ sóng mang con cho một người dùng tại một cùng thời điểm: chỉ có một 18 người dùng có thể truyền phát tại một thời điểm. Nếu nhiều người dùng muốn truyền phát trong OFDM, người dùng phải thay phiên nhau trong miền thời gian. Cụ thể, trong OFDM mỗi người dùng được cấp phát một ký tự OFDM trong miền thời gian, và các ký tự OFDM được cấp phát cho người dùng tương ứng trước khi ký tự OFDM đi vào máy phát(hình 1.