Chương 1 TỔNG QUAN 1. Sơ lược đặc điểm sinh học tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) (boone, 1931) 1. Sơ lược hình thái phân loại và phân bố Hình 1. Hình dạng ngoài của tôm thẻ chân trắng (Litopenaeus vannamei) Theo L.
Holthuis, 1980 tôm thẻ chân trắng có hệ thống phân loại như sau: Ngành: Arthropoda Lớp: Malacostraca Bộ: Decapoda Họ: Penaeidae Giống: Litopenaeus Loài: Lipopenaeus vannamei (Boone, 1931). Tên tiếng Anh: Whiteleg shrimp Tên Việt Nam: Tôm thẻ Chân Trắng Tôm thẻ chân trắng có nguồn gốc từ vùng biển xích đạo đông Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung Pêru, nhiều nhất ở vùng biển luan an 7 gần Ecuador. Trong điều kiện nhiên tôm thẻ chân trắng có thể đạt chiêu dài cơ thể tối đa 23 cm, con cái thường lớn nhanh hơn và có kích thước lớn hơn con đực (Baghaei và ctv 2013; Manecas và ctv, 2013). Cơ thể của tôm penaeid được chia thành hai phần, đầu ngực và bụng.
Hầu hết các cơ quan: tim, gan tụy và dạ dày đều nằm trong phần đầu ngực. Các phần phụ của đầu ngực được biến đổi thành các dạng khác nhau, bao gồm: năm cặp chân bò, cấu trúc giống như hàm, ăng ten và râu, và năm đôi chân bơi nằm ở bụng. Tôm thẻ chân trắng có chủy dài vừa phải, với 7-10 răng chủy cạnh trên và 2-4 răng chủy cạnh dưới. Ở những con đực trưởng thành, petasma là đối xứng và bán mở.
Túi tinh gồm một khối được bao bọc bởi một vỏ bọc. Trong khi đó tôm cái trưởng thành có thelycum mở. Màu sắc thường là màu trắng đục, chúng có thể thay đổi tùy thuộc vào chất nền, thức ăn và độ đục của nước. Tôm thẻ chân trắng là loài rộng muối có thể sống từ 0,5-50‰, mặc dù tăng trưởng tốt nhất đạt được trong độ mặn từ 10 đến 25‰ (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004; Sowers và ctv, 2006).
Nhiệt độ phù hợp cho sự sinh trưởng của tôm 25 - 32°C (Nguyễn Thanh Phương và Trần Ngọc Hải, 2004; Kim Văn Vạn và Đoàn Thị Nhinh, 2019). Một số yếu tố ảnh hưởng tới sinh trưởng và khả năng thích ứng của tôm thẻ chân trắng 1. Ảnh hưởng của thức ăn tới sinh trưởng của tôm Quá trình sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng cũng chịu tác động của nhiều yếu tố bên ngoài, trong đó thức ăn có ảnh hưởng rõ nhất tới sinh trưởng của tôm. Tôm thẻ chân trắng là loài động vật ăn tạp nhưng thiên về thức ăn có nguồn gốc động vật.
Kết quả phân tích dạ dày tôm cho thấy thành phần thức ăn rất phong phú như: tảo khuê, tảo sợi, động vật nguyên sinh, động vật phù du, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ (Lê Quốc Việt và ctv, 2019; Jian Tan và ctv, 2019). Ngoài tự nhiên tôm thường bắt mồi khi cường độ chiếu sáng thấp đặc biệt vào hai thời điểm trước bình minh và hoàng hôn (Manecas và ctv, 2013). Ngoài ra, tôm cũng tăng cường bắt mồi khi trong ao nuôi có nguồn nước mới khi thủy triều lên, luan an 8 oxy hòa tan trong nước cao hơn 5mg/L (Madenjian, 1990; Muthuwani và Kwei Lin, 1995). Nhiều nghiên cứu đã chứng minh tính ăn của tôm thay đổi theo giai đoạn phát triển và khả năng bắt mồi của tôm tăng dần theo giai đoạn phát triển của cơ thể.
Các nguồn thức ăn tự nhiên trong ao nuôi như tảo, động vật phù du và sinh vật đáy là nguồn dinh dưỡng có chất lượng cao, tôm dễ tiêu hóa và ít tốn chi phí, ngoài ra nguồn thức ăn này còn cung cấp cho tôm nhiều vitamin, khoáng chất và carbohydrate (Trần Thị Thanh Hiền và Nguyễn Anh Tuấn (2009; Lục Minh Diệp, 2012). Trong quá trình phát triển, tôm phải trải qua quá trình lột xác nhiều lần, vì vậy thức ăn có chứa chất khoáng đầy đủ sẽ giúp tôm lột xác đồng đều và chu kỳ lột xác rút ngắn. Châu Tài Tảo và ctv (2016) đã chứng minh rằng, nếu bổ sung thêm 60mL/m3 khoáng vi lượng vào thức ăn thì tăng trưởng chiều dài cũng như tỷ lệ sống ở giai đoạn PL15 của tôm thẻ chân trắng cao hơn so với không bổ sung hoặc bổ sung với lượng khoáng vi lượng thấp hơn. Fourooghifard và ctv.
2017 còn cho rằng, năng suất tôm thẻ chân trắng sẽ tăng lên nếu kết hợp với trồng rong đỏ (Gracilaria corticata). Đó là do rong đã giúp làm sạch môi trường, ổn định một số yếu tố môi trường như oxy hòa tan, pH. Ngoài thức ăn, thì mật độ cũng là yếu tố ảnh hưởng khá rõ tới sinh trưởng của tôm. Kết quả nghiên cứu của Lê Quốc Việt và Trần Ngọc Hải (2018) đã chỉ ra rằng, tôm nuôi ở mật độ thấp (150 con/m3) có mức tăng trưởng, tỷ lệ sống cao hơn và hệ số thức ăn thấp hơn (p<0,05) so với mật độ 200 và 300 con/m3.
Ngoài ra, sự tăng trưởng của tôm cũng phụ thuộc vào thành phần thức ăn. Lê Quốc Việt và ctv (2017; 2019) cho biết, nếu bổ sung 10% bí đỏ hoặc sử dụng cà rốt để thay thế 30% lượng thức ăn viên khi nuôi tôm thẻ thì chất lượng tôm được cải thiện và giảm được chi phí thức ăn. Một số kết quả nghiên cứu cũng cho biết trong quá trình nuôi tôm thẻ chân trắng công nghiệp theo công nghệ biofloc cũng cải thiện về sinh trưởng, tỷ lệ sống của tôm (Soon và ctv, 1999; Lục Minh Diệp, 2012; Tạ Văn Phương và ctv, 2014; Nguyễn Duy Quỳnh Trâm và ctv, 2015). Ảnh hưởng của nhiệt độ tới hoạt động sống của tôm luan an 9 Khi nhiệt độ tăng sẽ thúc đẩy quá trình trao đổi chất của tôm tăng, tôm sẽ tăng cường hô hấp và quá trình tiêu hóa cũng nhanh hơn (Jesus Ponce-Palafox, và ctv, 1997).
Tuy nhiên, do lượng men tiêu hóa trong cơ thể lại có hạn nên sẽ khó có thể hấp thụ được chất dinh dưỡng trong thức ăn như ở nhiệt độ thích hợp. Lúc đó tôm sẽ tiêu tốn nhiều thức ăn mà hiệu quả không cao. Ở điều kiện nhiệt độ cao, quá trình phân hủy sẽ xảy ra nhanh, tiêu tốn oxy và có thể gây thiếu oxy cục bộ ở tầng đáy, đồng thời sinh ra nhiều khí độc (H2S) và vi khuẩn gây bệnh. Tôm chỉ có thể sử dụng và hấp thụ thức ăn hiệu quả nhất khi sống trong khoảng nhiệt độ phù hợp 28- 30oC (Ðỗ Thị Thanh Hương và ctv, 2004; Đỗ Văn Bước và ctv, 2019).
Lượng tiêu thụ thức ăn trung bình ở nhiệt độ 33°C cao hơn 36,5% so với ở nhiệt độ 29°C, nhưng tốc độc tăng trưởng tương tự nhau ở cả hai mức nhiệt độ 29 và 33oC. Kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, ở khoảng nhiệt độ trung bình từ (30,5°C-33,2°C) lượng tiêu thụ thức ăn cao hơn 30% so với nhiệt độ bình thường (25-28oC) sau 21 đến 40 ngày nuôi. Mặt khác, khi cho ăn ở nhiệt độ (30,5-33,2oC) thì chất lượng nước bị suy giảm do thức ăn đã cung cấp thừa Nitơ, Phospho cho ao và đã làm tảo gia tăng (Xia và ctv, 2004; Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010). Khả năng thích ứng với pH pH là một là một trong những yếu tố môi trường quan trọng có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến đời sống của thủy sinh vật.
Khi pH môi trường quá cao hay quá thấp đều có thể làm biến đổi độ thẩm thấu của màng tế bào, làm rối loạn quá trình trao đổi muối nước giữa cơ thể sinh vật và môi trường (Ðỗ Thị Thanh Hương và ctv, 2004). Ngoài ra pH còn gây các ảnh hưởng gián tiếp như làm tăng nồng độ của khí NH3 và H2S trong môi trường (Boyd, 1990, 1998; Dinh The Nhan và ctv, 2017). Khả năng thích ứng với độ mặn Khả năng thích ứng với độ mặn không chỉ thay đổi theo loài mà còn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển cơ thể. Khi độ mặn thay đổi, trao đổi chất cơ sở của hầu hết động vật giáp xác cũng thay đổi.
Khi tôm tiếp xúc với độ mặn thấp, chúng phải chống lại sự mất muối (Na+ và Cl-) thụ động bằng cách hấp thu Na+ tích cực từ luan an 10 nước (Ong Mộc Qúy và Trịnh Việt Anh, 2005; Silva và ctv, 2010; Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010). Ngoài ra, Lê Việt Dũng (2018) cũng cho biết thêm tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của tôm thẻ chân trắng nuôi trong nước ngọt (0‰) không khác biệt so với nuôi trong nước có độ mặn 30‰ trong 21 ngày. Kalbassi và ctv (2013) cho biết thêm trong cùng giai đoạn phát triển thì khả năng thích ứng với độ mặn của tôm thẻ chân trắng thấp hơn so với hai loài Farfantepenaeus merguiensis và F. Độ mặn tối ưu cho tăng trưởng và tỷ lệ sống của một số loài tôm biển Giai đoạn Độ mặn Loài Nguồn tham khảo phát triển (‰) Farfantepenaeus Giống 25 Ruttanagosrigit và ctv (1982) merguiensis F.
brasiliensis Giống 35 Brito và ctv (2000) F. paulensis Hậu ấu trùng 10 Tsuzuki và ctv (2003) Litopenaeus vannamei Giống 5 - 15 Bray và ctv (1994) Nguồn: Kalbassi và ctv, 2013 1. Oxy hòa tan (DO) Theo Boyd (1998 và 2003) nếu giữ nồng độ oxy hòa tan ở mức độ phù hợp (5-6 mg/L) trong suốt thời vụ, tôm nuôi có tỷ lệ sống cao, tốc độ tăng trưởng nhanh, năng suất và hệ số thức ăn (FCR) đạt được kết quả tốt nhất. Thông thường, khi mới thả giống, hàm lượng oxy trong các ao nuôi thường rất cao do sự quang hợp của tảo kết hợp với hệ thống sục khí, trong khi nhu cầu của tôm còn ít.
Càng gần cuối vụ nuôi, sinh khối tôm tăng đồng thời mật độ vi khuẩn cũng tăng, khi đó hàm lượng oxy giảm dần và lượng CO2 tự do có thể tăng cao hơn. Chính điều này trở thành yếu tố hạn chế sự phát triển của tôm (Lin và ctv, 2003; Chanratchakool và ctv, 1995). Nhìn chung, để chotôm phát triển và sinh trưởng thuận lợi thì oxy hòa tan trong nước phải từ 5mg/L trở lên tới mức bão hòa. Nếu oxy hòa tan trong nước quá bão hòa sẽ có ảnh hưởng xấu tới quá trình trao đổi chất không những của tôm cũng như luan an 11 các động vật thủy sinh khác do hiện tượng hình thành bọt khí trong máu – (Bảng 1.
Ảnh hưởng của lượng oxy hòa tan đối với động vật thủy sản Lượng oxy hòa tan Mức độ ảnh hưởng Dưới 1-2 mg/L Có thể gây chết vật nuôi nếu thời gian kéo dài vài giờ. 2-5 mg/L Tăng trưởng sinh vật nuôi sẽ chậm nếu thời gian kéo dài 5 mg/L – bão hòa Tốt nhất cho tăng trưởng của sinh vật nuôi. Quá bão hòa Có thể ảnh hưởng xấu đến sinh vật nuôi nếu sự quá bão hòa xảy ra trong cả ao. Nguồn: Đỗ Thị Thanh Hương và Nguyễn Văn Tư, 2010.