Chương 1: Lý luận cơ bản về hoạt động cho vay đối với khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại. Chương 2: Thực trạng mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận. Chương 3: Giải pháp mở rộng hoạt động cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - Chi nhánh tỉnh Ninh Thuận. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1.
KHÁI QUÁT VỀ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Khái niệm và đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân tại ngân hàng thƣơng mại Theo Lê Thị Tuyết Hoa-Nguyễn Thị Nhung (2011) thì: "Tín dụng là quan hệ chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật) từ chủ thể sở hữu sang chủ thể sử dụng trên cơ sở phải có sự hoàn trả một lượng giá trị lớn hơn ban đầu trong một khoảng thời gian nhất định" Tại Việt Nam, Luật Các Tổ chức tín dụng năm 2010 cũng quy định: - "Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác" (Khoản 14, Điều 4) - "Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi" (Khoản 16, Điều 4). Trong phạm vi của luận văn này, khái niệm cho vay KHCN tại NHTM là hình thức cấp tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người chuyển nhượng quyền sử dụng vốn của mình cho KHCN một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi.
Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại Theo Bùi Diệu Anh, Hồ Diệu và Lê Thị Hiệp Thương (2011), liên hệ với lĩnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 vực cho vay KHCN tại NHTM có các đặc điểm như sau: - Quy mô của từng món vay thông thường nhỏ nhưng số lượng các món vay nhiều. Khách hàng cá nhân thường có hai mục đích vay: Thứ nhất là vay để bổ sung vốn kinh doanh. Hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân được pháp luật thừa nhận nhưng do những điều kiện về năng lực, vốn, tài sản,. còn hạn chế nên hoạt động kinh doanh thường không có quy mô lớn.
Thứ hai là cá nhân vay đáp ứng nhu cầu vốn để tiêu dùng, khoản vay cá nhân cho mục đích này trực tiếp phục vụ nhu cầu chi tiêu trong cuộc sống với giá trị hàng hóa, dịch vụ tiêu dùng ở mức không quá lớn như mua nhà đất, mua sắm vật dụng gia đình, xây dựng, sửa chữa nhà, mua ô tô, du học, thấu chi,. Số tiền cho vay hai mục đích này thường bị giới hạn bởi những điều kiện từ ngân hàng đó là: Phương án vay vốn có khả thi, khả năng trả nợ và tài sản bảo đảm khoản vay do đó những khoản vay này thường có quy mô nhỏ. Tuy nhiên, số lượng các khoản vay lớn do hai nguyên nhân chính: Thứ nhất, số lượng KHCN là rất lớn do đối tượng của loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội, đủ mọi thành phần kinh tế từ nông dân đến trí thức, từ những người có thu nhập cao đến những người có thu nhập trung bình và thấp. Thứ hai, do nhu cầu tín dụng phong phú và đa dạng của KHCN khi chất lượng cuộc sống và trình độ dân trí được nâng cao, người dân càng có nhu cầu vay ngân hàng để cải thiện và nâng cao mức sống.
- Chi phí tổ chức cho vay khách hàng cá nhân thường cao: Do đặc điểm của KHCN là số lượng nhiều và phân tán rộng nên để duy trì và phát triển tín dụng cá nhân sẽ tốn kém nhiều chi phí như mở rộng mạng lưới, marketing, nhân sự, chi phí quản lý, văn phòng phẩm, nước, điện thoại,. vì vậy chi phí bình quân trên một đồng vốn để cho vay KHCN thường cao. - Các khoản cho vay KHCN có mức lãi suất thường cao tương đối so với các khoản vay khác vì theo nguyên lý đơn thuần nhất thì rủi ro và chi phí cao sẽ đi kèm với lãi suất cao. - Thời hạn vay vốn: Tùy vào mục đích vay vốn và hình thức cho vay có thể LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 chia làm 3 thời hạn: Ngắn hạn, trung hạn, dài hạn.
- Cho vay khách hàng cá nhân có thể có rủi ro: Khi đánh giá nhân thân, nguồn trả nợ, mục đích sử dụng vốn vay thường khó đầy đủ và rõ ràng dẫn đến rủi ro thông tin bất cân xứng, dẫn đến việc thẩm định khách hàng thiếu chính xác. Do quy mô khoản vay nhỏ nhưng số lượng khoản vay lớn nên đôi khi trong quá trình thẩm định hồ sơ vay các cán bộ thường hay chủ quan, thậm chí lợi dụng sự lỏng lẻo của công tác quản lý và sơ hở của các quy định để gây ra tổn thất cho ngân hàng. Phân loại cho vay và rủi ro trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thƣơng mại Theo Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng (2015), liên hệ với lĩnh vực cho vay KHCN tại NHTM thì có thể phân loại như sau: - Phân loại theo mục đích sử dụng vốn vay gồm: Cho vay sản xuất kinh doanh, là một hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân là chủ hộ kinh doanh cá thể để tiến hành hoạt động sản xuất, lưu thông hàng hóa; Cho vay tiêu dùng, là các khoản cho vay KHCN, để mua sắm hàng hóa tiêu dùng như phương tiện đi lại, trang thiết bị trong nhà, cho vay du học, chữa bệnh, mua nhà đất, xây dựng nhà, sửa chữa nhà, thấu chi,. - Phân loại theo thời hạn cho vay gồm: Cho vay ngắn hạn, là các khoản vay có thời hạn cho vay đến 12 tháng, sử dụng chủ yếu để bù đắp nhu cầu vốn lưu động tạm thời thiếu và nhu cầu chi tiêu ngắn hạn của các cá nhân; Cho vay trung hạn, là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 12 tháng đến 60 tháng, được sử dụng chủ yếu để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới trang thiết bị, mở rộng sản xuất, xây dựng các dự án có quy mô nhỏ; Cho vay dài hạn, là các khoản vay có thời hạn cho vay từ trên 60 tháng trở lên, đáp ứng cho nhu cầu đầu tư dài hạn như: Xây dựng nhà xưởng, cải tiến và mở rộng sản xuất có quy mô lớn.
Và tại Điều 10 Thông tư số 39/2016/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phân loại cho vay gồm cho vay ngắn hạn (các khoản vay có thời hạn cho vay tối đa 01 năm), cho vay trung hạn (các khoản vay có thời hạn cho vay trên 01 năm và tối đa 05 năm) và cho vay dài hạn (các khoản vay có thời hạn cho vay trên 05 năm). LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 - Phân loại theo tính chất bảo đảm/mức độ tín nhiệm của người vay gồm: Cho vay có bảo đảm, là cho vay dựa trên cơ sở của các biện pháp đảm bảo được pháp luật quy định trong Bộ Luật Dân sự, chẳng hạn như cầm cố, thế chấp hoặc có bảo lãnh của người thứ ba. Hầu hết các khách hàng vay mới, ít quan hệ đều phải áp dụng đảm bảo mới được ngân hàng cho vay. Quy định này nhằm hình thành nguồn trả nợ bổ sung trong trường hợp nguồn trả nợ đầu tiên không thực hiện được; Cho vay không có bảo đảm, là loại hình cho vay chỉ dựa trên uy tín của chính người vay, hiệu quả kinh tế và khả năng trả nợ từ dòng tiền của phương án/dự án vay, không cần phải có các biện pháp đảm bảo tiền vay đi kèm.
Loại cho vay này áp dụng cho những khách hàng truyền thống, tín nhiệm cao, số tiền vay không lớn, thời hạn ngắn. - Rủi ro tín dụng trong cho vay khách hàng cá nhân tại Ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của TCTD do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết (Nguyễn Minh Kiều, 2012). Như vậy có thể hiểu rủi ro tín dụng trong cho vay KHCN là khả năng xảy ra những tổn thất về tài chính mà ngân hàng gánh chịu do KHCN không thực hiện, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng tín dụng, với biểu hiện cụ thể là khách hàng chậm trả nợ, trả nợ không đầy đủ hoặc không trả nợ khi đến hạn các khoản gốc và lãi. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với khách hàng cá nhân Theo Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Đức Hưởng (2015), vai trò của tín dụng ngân hàng nói chung cũng như vai trò của cho vay KHCN nói riêng như sau: 1.
Đối với nền kinh tế Thứ nhất, cho vay KHCN thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và việc làm bởi vì nó góp phần tăng lượng vốn đầu tư và hiệu quả đầu tư. Điều này xuất phát từ chức năng kinh tế cơ bản của thị trường tài chính nói chung và thị trường tín dụng ngân LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 hàng nói riêng là luân chuyển vốn từ những người có nguồn vốn thặng dư tạm thời đến những người thiếu hụt. Thông qua tín dụng ngân hàng nói chung, cho vay KHCN nói riêng mà vốn từ những người thiếu các dự án đầu tư hiệu quả được chuyển tới những người có các dự án đầu tư hiệu quả hơn nhưng thiếu vốn. Người đi vay và ngân hàng đều nỗ lực sử dụng vốn hiệu quả để tránh không trả được nợ dẫn đến bị phát mại tài sản, giải thể, hoặc phá sản.
Kết quả là kinh tế tăng trưởng, tạo công ăn việc làm và năng suất lao động cao hơn. Thứ hai, là công cụ điều tiết kinh tế xã hội của Nhà nước.