Chương 1 : Tổng quan tình hình nghiên cứu và những vấn đề cơ bản về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng thƣơng mại Chương 2 : Phƣơng pháp nghiên cứu Chương 3 : Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Quân đội-Chi nhánh Thanh Xuân Chương 4 : Giải pháp hoàn thiện cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Quân đội-Chi nhánh Thanh Xuân Kết luận Tài liệu tham khảo 3 z CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CHO VAY CÁC DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu Hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng đƣợc coi là hoạt động trọng yếu trong sự tồn tại và phát triển của mỗi ngân hàng thƣơng mại từ trƣớc tới nay. Bên cạnh đó, các chủ đề liên quan đến các DNNVV ngày càng đƣợc các nhà nghiên cứu, các nhà hoạch định chính sách ở nhiều nƣớc, ở cả các nƣớc phát triển và đang phát triển nghiên cứu và mở rộng. Nhiều quốc gia, bao gồm Nhật Bản, Đức, Úc và Mỹ cho thấy việc hỗ trợ cho sự phát triển của các DNNVV giúp đạt đƣợc bƣớc nhảy vọt về mặt phát triển kinh tế và xã hội ở các nƣớc này.
Hoạt động tín dụng_cho vay dành cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam hiện nay cũng giống nhƣ các nƣớc trong khu vực và trên thế giới, đã và đang giành đƣợc nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu. Tín dụng ngân hàng là một khái niệm dùng nói đến mối quan hệ kinh tế giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay Trong đó Tín dụng là một giao dịch về tài sản (tiền, hàng hóa…) bên cho vay chuyển giao cho bên đi vay sử dụng một lƣợng giá trị (thƣờng dƣới hình thái tiền) trong một thời gian nhất định theo những điều kiện mà hai bên đã thoả thuận (thời gian, phƣơng thức thanh toán lãi gốc, thế chấp.) Trong tín dụng Ngân hàng thì cho vay lại là hoạt động truyền thống và quan trọng, về cho vay, theo thông tƣ số 39/2016/TT-NHNN ngày 31/12/2016 của Ngân hàng Nhà nƣớc định nghĩa nhƣ sau về hoạt động cho vay: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”. 4 z Về sự tồn tại và phát triển, của các DNNVV tại Việt Nam hiện nay, có thể thấy nằm trong xu thế hội nhập ngày càng sâu và rộng, tình hình sản xuất kinh doanh, mức độ cạnh tranh của các DNNVV trong nƣớc sẽ gặp nhiều khó khăn hơn nữa, quá trình đào thải doanh nghiệp tiếp tục diễn ra mạnh mẽ. Vì thế, việc tìm ra hƣớng đi nhằm giúp các Doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn từ Ngân hàng, để nâng cao khả năng tài chính, khả năng quản trị và công nghệ, đang ngày càng cấp thiết.
Từ đó, cần có những nghiên cứu nhiều chiều, đi sâu vào cụ thể, của vấn đề cho vay các Doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhằm giúp cho các bên tham gia có thể tham khảo hiệu quả, tìm ra các hƣớng đi thích hợp cho mình. Đi nghiên cứu chung về tín dụng, tăng trƣởng tín dụng ngân hàng nói chung, đối với Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở Việt Nam trong điều kiện bất ổn, đã có Nguyễn Văn Lê (2014), tác giả đã hệ thống hóa lý luận cũng nhƣ đƣa ra thực trạng tăng trƣởng tín dụng dành cho các DNNVV của hệ thống Ngân hàng nói chung trong giai đoạn 2009-2013. Phát triển vấn đề về dịch vụ ngân hàng nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa, có Nguyễn Minh Tuấn (2008), Mai Văn Nam (2012), đề cập đến các vấn quản trị giao dịch, tín dụng, quản lý tín dụng, cũng nhƣ đề xuất hệ thống kế toán riêng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa… dành cho các Ngân hàng Thƣơng mại của Việt Nam. Hay nghiên cứu thực nghiệm cho một khu vực, có Trƣơng Quang Thông cùng cộng sự (2009), đã tiến hành khảo sát thực nghiệm về tài trợ tín dụng cho các DNNVV tại các đơn vị tín dụng trên địa bàn TPHCM.
Đi sâu hơn vào hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa của một đơn vị tín dụng cụ thể, lại có Trịnh Thị Lan Hƣơng (2012), Nguyễn Đình Huy(2013), Lê Thùy Linh(2014), nghiên cứu riêng về hoạt động cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó tập trung đánh giá khả năng quản trị hoạt động cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại tại một ngân hàng cụ thể, nhằm đƣa ra biện pháp hạn chế rủi ro tối đa. 5 z Nhìn chung, các bài nghiên cứu này đều trực tiếp hay gián tiếp cung cấp đến ngƣời đọc thực trạng hoạt động cho vay của các ngân hàng thƣơng mại đối với các DNNVV trong những bối cảnh nền kinh tế nhất định. Nói riêng về Ngân hàng TMCP Quân đội, bên cạnh những vấn đề chung về chất lƣợng cho vay của ngân hàng thƣơng mại, các bài nghiên cứu đƣa ra cái nhìn tổng quát hoạt động kinh doanh tại Ngân hàng Quân đội, sau đó đánh giá và đƣa ra giải pháp nâng cao chất lƣợng cho vay các DNNVV tại Ngân hàng thƣơng mại cổ phần Quân đội, hay tại các chi nhánh (khác) của Ngân hàng Quân đội, của các tác giả Nguyễn Minh Thùy (2011), Uông Đông Hƣng (2010), Đào Mai Hƣơng (2010). Tuy vậy có thể thấy, chƣa có một nghiên cứu nào riêng cho hoạt động cho vay các DNNVV tại Ngân hàng Quân đội chi nhánh Thanh Xuân trong thời gian gần đây.
Vì vậy, với mong muốn đƣa ra cái nhìn toàn diện và sâu sắc hơn về hoạt động này tại Ngân hàng Quân đội chi nhánh Thanh Xuân, tôi thực hiện bài nghiên cứu “Cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng TMCP Quân đội Chi nhánh Thanh Xuân”, giai đoạn 2015-2017 1.2 Một số vấn đề cơ bản về cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa tại các Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Ngân hàng thương mại và một số hoạt động chính của Ngân hàng thương mại Ngân hàng thƣơng mại đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống ngân hàng thƣơng mại đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngƣợc lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó kinh tế thị trƣờng – thì ngân hàng thƣơng mại cũng ngày càng đƣợc hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu đƣợc. Luật các tổ chức tín dụng (QH số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 6 z 2010, Luật Các tổ chức tín dụng): NHTM là tổ chức tín dụng đƣợc thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan vì mục tiêu lợi nhuận theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật (Nghị định số 59/2009/NĐ-CP của Chính phủ về tổ chức và hoạt động của NHTM). Theo Luật Ngân hàng nhà nƣớc Việt Nam số 46/2010/QH12 ngày 16 tháng 6 năm 2010: Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thƣờng xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Nhƣ vậy ngân hàng thƣơng mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trƣờng. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ đƣợc huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế. Nhìn chung, các NHTM hoạt động trên 03 nghiệp vụ chính: ♦ Nghiệp vụ nguồn vốn Là nghiệp vụ tạo lập nguồn vốn hoạt động của NHTM. Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thƣơng mại gồm: Vốn điều lệ (Statutory Capital); Các quỹ dự trữ (Reserve funds); Vốn huy động (Mobilized Capital); Vốn đi vay (Bonowed Capital); Vốn tiếp nhận (Trust capital); Vốn khác (Other Capital) Vốn chủ sở hữu: Là vốn riêng có của NHTM khi đƣợc thành lập và đƣợc bổ sung trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Vốn chủ sở hữu của NHTM gồm Vốn điều lệ (hay vốn pháp định): Đây là vốn của NHTM khi đƣợc thành lập và đƣợc ghi vào điều lệ của ngân hàng. Trong quá trình hoạt động kinh doanh, vốn điều lệ đƣợc bổ sung nhờ việc phát hành cổ phiếu hoặc đƣợc kết chuyển từ quỹ dự trữ bổ sung. 7 z Các quỹ của ngân hàng: Các NHTM đƣợc trích lập Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ theo tỷ lệ quy định (thông thƣờng tỷ lệ này khoảng 5%). Ngoài ra, các NHTM còn đựơc trích lập các quỹ: Quỹ đầu tƣ phát triển; Quỹ dự phòng; Quỹ khen thƣởng, phúc lợi … Vốn huy động: Là tài sản bằng tiền của các khách hàng mà NHTM đang tạm thời quản lý và sử dụng.
Đây là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của các NHTM. Nguồn vốn huy động này có vai trò rất quan trọng đối với nền kinh tế xã hội vì các NHTM sẽ sử dụng nguồn vốn này vào các yêu cầu của nền kinh tế. Nguồn vốn huy động là nguồn vốn chủ yếu và chiếm tỷ trọng lớn trong NHTM. Vốn huy động bao gồm: Tiền gửi không kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và linh hoạt sử dụng.
Đối với khoản tiền gửi này, lãi suất không phải là công cụ chính để thu hút nguồn vốn này mà công cụ chính hấp dẫn khách hàng là các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp. Mục đích của khách hàng gửi tiền không kỳ hạn nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua ngân hàng. Tiền gửi có kỳ hạn: Là loại tiền gửi mà khách hàng chỉ đƣợc rút ra khi đáo hạn. Mục đích của khách hàng gửi tiền định kỳ là để hƣởng lãi; vì vậy ngân hàng có thể chủ động việc sử dụng nguồn vốn này vì tính có thời hạn.
Nguồn vốn huy động định kỳ là nguồn vốn ổn định vì vậy nó có thể đƣợc sử dụng để cấp tín dụng ngắn hạn, trung và dài hạn. Vốn đi vay: Nguồn vốn này chiếm vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của một ngân hàng. Các NHTM có thể vay vốn từ Ngân hàng Trung ƣơng; của các ngân hàng khác và các tổ chức tài chính trung gian khác hoặc vay từ công chúng.