Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng nông nghiệp ptnt việt nam chi nhánh huyện tam dương vĩnh phúc

Khám phá luận văn thạc sĩ về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp PTNT Việt Nam, chi nhánh Tam Dương, Vĩnh Phúc.

Trường đại học

Học viện Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ kinh tế

2021

101
5
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Cơ sở lý luận về phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại

Nghiên cứu về cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại là một lĩnh vực quan trọng trong hệ thống tài chính. Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) đóng góp lớn vào nền kinh tế Việt Nam, chiếm 98,1% tổng số doanh nghiệp và tạo ra khoảng 45% GDP. Việc phát triển tín dụng doanh nghiệp không chỉ giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng mà còn thúc đẩy sự phát triển kinh tế địa phương. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT) đã xác định DNNVV là một trong những phân khúc khách hàng ưu tiên. Tuy nhiên, thực trạng cho vay đối với DNNVV tại NHNo&PTNT vẫn còn nhiều hạn chế, cần có các giải pháp cụ thể để phát triển hơn nữa.

1.1. Khái niệm về doanh nghiệp nhỏ và vừa

Theo Luật Doanh nghiệp 2020, doanh nghiệp được định nghĩa là tổ chức có tên riêng, tài sản và trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập nhằm mục đích kinh doanh. Doanh nghiệp nhỏ và vừa được phân loại theo quy mô lao động và vốn. Cụ thể, doanh nghiệp siêu nhỏ có dưới 10 lao động và vốn dưới 3 tỷ đồng, doanh nghiệp nhỏ có từ 10 đến 50 lao động và vốn từ 3 đến 20 tỷ đồng, trong khi doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 200 lao động và vốn từ 20 đến 100 tỷ đồng. Việc phân loại này giúp ngân hàng xác định đối tượng khách hàng và xây dựng chính sách cho vay phù hợp.

1.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa

DNNVV thường có quy mô nhỏ, nguồn lực hạn chế và khả năng tiếp cận vốn thấp. Họ thường gặp khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu của ngân hàng về tài sản đảm bảo và hồ sơ vay vốn. Tuy nhiên, DNNVV lại có tính linh hoạt cao, khả năng thích ứng nhanh với thị trường và thường đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra việc làm. Tín dụng doanh nghiệp cần được thiết kế linh hoạt hơn để phù hợp với đặc điểm của DNNVV, từ đó giúp họ phát triển bền vững.

II. Thực trạng cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Tam Dương Vĩnh Phúc

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Tam Dương đã có những nỗ lực trong việc phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, quy mô cho vay vẫn chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường. Các sản phẩm cho vay hiện tại còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của DNNVV. Tình hình nợ xấu cũng là một vấn đề đáng lo ngại, ảnh hưởng đến khả năng cho vay của ngân hàng. Cần có các giải pháp cụ thể để cải thiện tình hình này, từ việc nâng cao chất lượng dịch vụ đến việc mở rộng các hình thức cho vay.

2.1. Khái quát về ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Tam Dương

Chi nhánh NHNo&PTNT huyện Tam Dương đã hoạt động trong nhiều năm và đóng góp tích cực vào sự phát triển kinh tế địa phương. Ngân hàng đã triển khai nhiều chương trình hỗ trợ cho DNNVV, tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức trong việc mở rộng quy mô cho vay. Cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa ngân hàng và các cơ quan chức năng để tạo điều kiện thuận lợi cho DNNVV tiếp cận vốn.

2.2. Thực trạng hoạt động cho vay đối với DNNVV

Hoạt động cho vay đối với DNNVV tại NHNo&PTNT huyện Tam Dương hiện tại còn nhiều hạn chế. Quy trình cho vay chưa thực sự linh hoạt, các hình thức cho vay chưa đa dạng. Nhiều DNNVV vẫn gặp khó khăn trong việc tiếp cận vốn do yêu cầu về tài sản đảm bảo cao. Cần có các chính sách hỗ trợ từ ngân hàng để giúp DNNVV vượt qua những rào cản này.

III. Giải pháp phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam Chi nhánh huyện Tam Dương Vĩnh Phúc

Để phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa, NHNo&PTNT huyện Tam Dương cần thực hiện một số giải pháp quan trọng. Đầu tiên, ngân hàng cần mở rộng quy mô dư nợ cho vay, đồng thời cải thiện quy trình cho vay để giảm thiểu thủ tục hành chính. Thứ hai, cần nâng cao chất lượng dịch vụ và đào tạo nguồn nhân lực để phục vụ tốt hơn cho DNNVV. Cuối cùng, ngân hàng cần xây dựng các sản phẩm tín dụng đa dạng, phù hợp với nhu cầu của DNNVV.

3.1. Định hướng phát triển cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa

Định hướng phát triển cho vay DNNVV tại NHNo&PTNT huyện Tam Dương cần tập trung vào việc nâng cao chất lượng dịch vụ và mở rộng các sản phẩm cho vay. Ngân hàng cần xây dựng các chương trình hỗ trợ tài chính linh hoạt, phù hợp với từng loại hình doanh nghiệp. Điều này sẽ giúp DNNVV dễ dàng tiếp cận vốn và phát triển bền vững.

3.2. Một số giải pháp cụ thể

Một số giải pháp cụ thể bao gồm việc cải thiện quy trình thẩm định hồ sơ vay, tăng cường kiểm tra giám sát trước và sau khi cho vay, và nâng cao năng lực của đội ngũ nhân viên ngân hàng. Ngoài ra, ngân hàng cũng cần tăng cường hợp tác với các tổ chức hỗ trợ doanh nghiệp để cung cấp thông tin và tư vấn cho DNNVV trong quá trình vay vốn.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN CHO VAY DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1.1 Những vấn đề chung về Doanh nghiệp nhỏ và vừa tại NHTM 1.1 Khái niệm về Doanh nghiệp nhỏ và vừa Theo khoản 10, điều 4 Luật Doanh nghiệp 2020 có nêu định nghĩa: “Doanh nghiệp là tổ chức có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch, được đăng ký thành lập theo quy định của pháp luật nhằm mục đích kinh doanh”. Trong đó, theo luật doanh nghiệp 2005 giải thích về khái niệm kinh doanh: “Kinh doanh là việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi”. “Từ đó ta có thể nhận thấy một phân biệt khá quan trọng để được xác định một doanh nghiệp ngoài đảm bảo được 4 tiêu chí theo quy định là có tài sản, tên riêng, trụ sở chính và được đăng ký thành lập thì phải thỏa mãn điều kiện hoạt động với mục đích sinh lời. Các tổ chức không được xem là doanh nghiệp nếu có các hoạt động không hoàn toàn nhằm mục đích lợi nhuận.

Căn cứ theo Điều 6 Nghị định số 39/2018/NĐ - CP ngày 11/03/2018 về việc quy định chi tiết một số điều của Luật Hỗ trợ Doanh nghiệp nhỏ và vừa, theo đó DNNVV được phân theo quy mô bao gồm 3 loại là DN siêu nhỏ, DN nhỏ và DN vừa. Có thể khái quát thông qua bảng như sau: 10 Bảng 1.1: Bảng tiêu chí xác định DNNVV theo quy định của Chính Phủ Quy mô Doanh nghiệp siêu nhỏ Doanh nghiệp nhỏ Doanh nghiệp vừa Khu vực Tổng Số lao động Tổng nguồn Số lao động Tổng nguồn Số lao động nguồn vốn vốn vốn I. Nông, lâm Từ 3 tỷ Từ 10 từ trên 3 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 100 nghiệp và đồng trở người trở đồng đến 20 người đến đồng đến 100 người đến thủy sản xuống xuống tỷ đồng 100 người tỷ đồng 200 người II. Công Từ 3 tỷ Từ 10 từ trên 3 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 100 nghiệp và đồng trở người trở đồng đến 20 người đến đồng đến 100 người đến xây dựng xuống xuống tỷ đồng 100 người tỷ đồng 200 người III.

Thương Từ 3 tỷ Từ 10 từ trên 3 tỷ từ trên 10 từ trên 20 tỷ từ trên 50 mại và dịch đồng trở người trở đồng đến 20 người đến đồng đến 100 người đến vụ xuống xuống tỷ đồng 50 người tỷ đồng 100 người ( Nguồn: Nghị định số 39/2018/NĐ-CP) Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Nhà nước hoạt động trên các lĩnh vực do Nhà nước quy định có quy mô nhỏ, nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng và không quá 200 lao động tùy theo từng ngành nghề hoạt động.2 Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa - Doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm đa số trong tổng số doanh nghiệp “Cả nước hiện có khoảng 800.000 doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó 98% là doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) thu hút hơn 5 triệu lao động(khoảng 60% tổng lao động), đóng góp khoảng 45% GDP và 31% vào tổng thu ngân sách hàng năm, số liệu năm 2020 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư.Mặc dù số lượng DNNVV đông đảo, song quy mô DN nhỏ và siêu nhỏ chiếm tỷ lệ rất lớn, số DN quy mô vừa chỉ chiếm 1,6% tổng số DNNVV. Chính bởi quy mô nhỏ, nên hoạt động của khu vực DN này đang gặp khá nhiều khó khăn, như là khả năng tiếp cận các nguồn vốn để đầu tư vào máy 11 móc, công nghệ hiện đại, phục vụ cho sản xuất, kinh doanh; thiếu kinh nghiệm quản trị điều hành DN; khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh thị trường ngay trên thị trường nội địa.(Chu Thanh Hải,2020) Doanh nghiệp nhỏ và vừa có mặt ở khắp nơi trên tất cả các lĩnh vực của cuộc sống, xã hội. Khả năng linh hoạt trong việc chuyển đổi ngành nghề, tăng giảm quy mô, số lượng lao động. - Quy mô nhỏ Theo nghị định số 39/2018/NĐ-CP của Chính Phủ , các DNNVV có quy mô nguồn vốn dưới 100 tỷ đồng, số người lao động dưới 100 người đối với ngành dịch vụ, dưới 200 người đối với nhóm ngành Nông, Lâm nghiệp, Thủy sản và nhóm ngành Công nghiệp và xây dựng.

Như vậy DNNVV là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ về nguồn vốn, số lượng lao động, có mô hình quản lý đơn giản, chi phí quản lý, chi phí đào tạo không lớn và luôn trong tình trạng thiếu vốn cho mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh, đầu tư cải tiến máy móc hay thực hiện các dự án của doanh nghiệp. Tuy nhiên với quy mô nhỏ và mức độ đầu tư không lớn, tính linh hoạt cao rất phù hợp cho phát triển dân doanh.DNNVV là phương thức phù hợp và hữu hiệu để huy động nguồn lực từ dân cho phát triển kinh tế. - Tính linh hoạt cao DNNVV có khả năng đầu tư đa dạng và linh hoạt. Điều này được thể hiện ở việc DNNVV có nguồn vốn thấp do đó dễ chuyển đổi loại hình kinh doanh, phương án đầu tư, “sử dụng linh hoạt các loại máy móc thiết bị, có thể dễ dàng thay đổi công nghệ, đổi mới trang thiết bị với chi phí không quá lớn, kết hợp được cả công nghệ truyền thống và hiện đại.

Mặt khác, lĩnh vực sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường hướng tới phục vụ trực tiếp đời sống xã hội chủ yếu là đầu tư vào các sản phẩm có sức mua cao, nhạy cảm với biến động của thị trường và khả năng phản ứng lại thị trường linh hoạt, 12 chuyển đổi nhanh mặt hàng phù hợp thị hiếu người tiêu dùng.” - Bộ máy tổ chức hoạt động đơn giản: Do quy mô nhỏ và số lượng lao động không nhiều nên việc tổ chức sản xuất cũng như bộ máy quản lý của DNNVV gọn nhẹ, đơn giản. “Không có sự phân tầng rõ rệt giữa các phòng ban và tính chuyên môn hoá chưa cao. Tuy nhiên đây cũng là 1 lợi thế của DNNVV do chi phí cho hoạt động tổ chức, quản lý tương đối thấp, thời gian đưa ra quyết định và truyền đạt ý tưởng từ lãnh đạo tới công nhân viên nhanh chóng và hiệu quả, không phải qua nhiều khâu trung gian.” - Năng lực tài chính còn yếu: Có DNNVV hiện nay chưa thực sự chú trọng đến tính minh bạch và hiệu quả của hoạt động tài chính trong doanh nghiệp. “Lý do trước hết là do trình độ quản lý và quan điểm của ban quản trị chưa quan tâm đúng mức tới vai trò của hoạt động tài chính của doanh nghiệp.

Thông thường các DNNVV đầu tư rất lớn về sản xuất, marketing, bán hàng…Nhưng lại lơ là về vấn đề tài chính hoặc trao toàn bộ cho bộ phận kế toán. Hầu như trong các DNNVV hiện nay của Việt Nam thường thiếu vị trí giám đốc tài chính và mọi hoạt động tài chính của danh nghiệp do kế toán trưởng đảm nhiệm. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến đánh giá tài chính, quyết định kinh doanh cũng như chiến lược phát triển của công ty. - Khả năng tiếp cận nguồn vốn thấp: Nguồn vốn chủ yếu của các DNNVV thường là vốn tự có hoặc vốn vay trên thị trường phi tài chính.

Số liệu báo cáo từ các TCTD đến hết tháng 2/2019 cho thấy, tín dụng đối với lĩnh vực DNNVV đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng, tăng 9,32% so với cùng kỳ năm 2018. Tính đến cuối tháng 6/2019, dư nợ cho vay DNNVV tăng 6,03% (năm 2018 tăng 15,57%, chiếm 18,2%) (Nguyễn Hữu Tuấn,2020). Cùng với các kênh trên, khá nhiều chương trình, dự án hỗ 13 trợ tín dụng nói chung và hỗ trợ tín dụng cho DNNVV nói riêng đã được xây dựng và triển khai như: Chương trình ưu đãi tài chính cho ngành công nghiệp hỗ trợ; Chương trình bảo lãnh vay vốn cho dự án sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả tại các DNNVV từ Quỹ Phát triển khoa học và công nghệ quốc gia… Số lượng vay vốn ngân hàng hiện nay vẫn còn rất thấp so với nhu cầu của doanh nghiệp. Điều này được giải thích là do nhiều nguyên nhân nhưng nhìn chung do năng lực tài chính của doanh nghiệp chưa cao, tài sản thế chấp không đáp ứng được yêu cầu của ngân hàng.

Điều này sẽ dẫn đến doanh nghiệp thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh, thiếu vốn đầu tư cho sản xuất, đổi mới công nghệ, khó khăn cho mở rộng thị trường. - Thiếu thông tin, khó khăn trong việc tiếp cận thị trường tài chính: Thứ nhất, khu vực này thường bị thiếu thông tin về thị trường đầu vào như thị trường vốn, lao động, nguyên vật liệu, thiết bị, công nghệ, thiếu thông tin về thị trường tiêu thụ sản phẩm trong nước cũng như cho xuất khẩu và đặc biệt là chưa tiếp cận được công nghệ thông tin trong quản lý doanh nghiệp. Điều này cũng xuất phát từ chính đặc điểm hoạt động của doanh nghiệp, thường không có kiến thức chuyên môn về lĩnh vực công nghệ thông tin vì các DNNVV thường chỉ chú ý vào các hoạt động tác nghiệp, giành rất ít thời gian cho các hoạt động cải tiến và chiến lược. Điều này cản trở họ tiếp cận các công nghệ mới nhất.

Thứ hai là DNNVV thường không biết các nguồn thông tin mà họ nên tham khảo. Điều này khiến họ tụt hậu về công nghệ. Thứ ba, việc tiếp cận thông tin và cải tiến công nghệ đòi hỏi thay đổi nhiều về chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm. Nó làm thay đổi từ bên trong tổ chức.

Việc doanh nghiệp tụt hậu về công nghệ do hạn chế về tổ chức và tần nhìn chiến lược thích đáng. 14 Do thiếu thông tin, năng lực tài chính chưa đảm bảo minh bạch là trở ngại lớn cho các DNNVV khi tham gia thị trường tài chính. Họ chưa đủ lớn để phát hành vốn qua kênh thị trường chứng khoán. - Khả năng tiếp cận thị trường kém: Khả năng xúc tiến thương mại, tiếp cận thị trường trong và ngoài nước còn nhiều hạn chế, thường chưa nắm bắt, khai thác và đáp ứng được nhu cầu thị trường.

Do công nghệ lạc hậu, nên các sản phẩm của các DNNVV thường chỉ cung cấp sản phẩm thông dụng, chưa có những sáng tạo đột phá để tăng tính cạnh tranh và kích thích tiêu dùng…Lại thêm quy mô nhỏ bé, năng lực sản xuất chưa cao, hạn chế về vốn, thiếu khả năng xây dựng triển khai kế hoạch tiếp thị sản phẩm nên DNNVV gặp nhiều khó khăn để cạnh tranh trong môi trường toàn cầu hoá. Trong khi đó các doanh nghiệp Việt Nam còn thiếu sự liên kết, hợp tác giữa các doanh nghiệp lớn và DNNVV khiến mạng lưới phân phối sản phẩm còn bó hẹp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu cho vay doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Ngân hàng Nông nghiệp PTNT Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về quy trình cho vay và các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định cho vay đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tác giả phân tích các chính sách cho vay, điều kiện vay vốn, cũng như những thách thức mà ngân hàng gặp phải trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp này. Độc giả sẽ nhận thấy rằng việc hiểu rõ các yếu tố này không chỉ giúp họ có cái nhìn tổng quan về thị trường tài chính mà còn có thể áp dụng vào thực tiễn khi tìm kiếm nguồn vốn cho doanh nghiệp của mình.

Nếu bạn muốn mở rộng kiến thức về các khía cạnh khác liên quan đến cho vay doanh nghiệp, hãy tham khảo bài viết Luận văn tăng trưởng tín dụng doanh nghiệp tại ngân hàng, nơi phân tích sự phát triển tín dụng trong lĩnh vực doanh nghiệp. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ cho vay khách hàng doanh nghiệp tại ngân hàng tmcp đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh sơn tây sẽ cung cấp thêm thông tin về các chiến lược cho vay tại một ngân hàng cụ thể. Cuối cùng, bạn cũng có thể tìm hiểu về Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh hoàn thiện công tác đảm bảo tiền vay bằng tài sản tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn chi nhánh phù mỹ tỉnh bình định, giúp bạn hiểu rõ hơn về các biện pháp bảo đảm trong cho vay. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về lĩnh vực cho vay doanh nghiệp.