Tổng quan nghiên cứu

Lưu vực sông Trường Giang giữ vị trí chiến lược đặc biệt trong cấu trúc không gian tự nhiên và kinh tế - xã hội vùng ven biển tỉnh Quảng Nam. Với tổng chiều dài 67 km, dòng sông trải dọc qua 4 đơn vị hành chính bao gồm huyện Duy Xuyên, huyện Thăng Bình, thành phố Tam Kỳ và huyện Núi Thành. Không gian phụ cận của sông là nơi sinh sống của 151.277 cư dân tại 18 xã, trong đó có tới 69,46% lực lượng lao động gắn liền trực tiếp với hoạt động nông lâm thủy sản. Sông Trường Giang tiếp nhận nguồn nước từ hai hệ thống sông lớn là Vu Gia - Thu Bồn ở phía Bắc (đổ ra Cửa Đại) và sông Tam Kỳ ở phía Nam (đổ ra Cửa Lở và Cửa An Hòa), chịu ảnh hưởng giao thoa sâu sắc bởi chế độ nhật triều và bán nhật triều.

Sự gia tăng dân số nhanh chóng cùng tốc độ đô thị hóa và mở rộng diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ từ 801,65 ha năm 2010 lên 1.075,55 ha năm 2016 đã tạo áp lực tải lượng cực lớn lên môi trường tiếp nhận. Hơn 50 cụm công nghiệp hình thành dọc tuyến nhưng mới chỉ có 77 trên tổng số 144 cơ sở sản xuất có hệ thống xử lý nước thải, khiến nguy cơ suy thoái nước mặt và ô nhiễm trầm tích ngày càng trở nên cấp thiết. Mục tiêu của luận văn là đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng nước theo chỉ tiêu đơn lẻ và chỉ số tổng hợp ReWQI, phân tích mức độ tích lũy kim loại nặng trong trầm tích đáy, đồng thời nhận diện chính xác các nguồn thải trọng điểm nhằm đề xuất hệ thống giải pháp kỹ thuật và quản lý môi trường đồng bộ, hướng đến mục tiêu giảm thiểu từ 30% đến 50% tải lượng chất ô nhiễm phát thải vào lòng sông.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng dựa trên lý thuyết lan truyền và chuyển hóa chất ô nhiễm trong môi trường thủy vực nước lợ cửa sông, nơi dòng chảy chịu sự chi phối lưỡng cực của thủy triều hai đầu. Cơ sở đánh giá vận dụng mô hình chất lượng nước tương đối tổng quát ReWQI do Phạm Ngọc Hồ phát triển năm 2015. Mô hình ReWQI khắc phục triệt để các khiếm khuyết của phương pháp WQI truyền thống (Ott, 1978; TWQI, 2012) nhờ cơ chế tích hợp trọng số khách quan Wi và phân cấp 5 mức chất lượng nước (Tốt/Rất tốt, Trung bình, Kém, Xấu, Rất xấu) linh hoạt theo số lượng thông số khảo sát n, loại trừ hiện tượng sai lệch hay đánh giá mơ hồ.

Bên cạnh đó, nghiên cứu ứng dụng lý thuyết địa hóa môi trường về sự phân đoạn kim loại nặng trong trầm tích sông. Các khái niệm cốt lõi được lượng hóa gồm nhu cầu oxy sinh hóa (BOD5), nhu cầu oxy hóa học (COD), tổng chất rắn lơ lửng (TSS), oxy hòa tan (DO) và các dạng tồn tại trao đổi (F1, F2) đến liên kết bền (F4, F5) của kim loại độc hại. Khi các yếu tố lý hóa như độ pH suy giảm dưới 4,0 do đất phèn tiềm tàng bị oxy hóa, các kim loại nặng gắn kết trong trầm tích có xu hướng phóng thích ngược trở lại tầng nước mặt, đe dọa trực tiếp mạng lưới sinh vật thủy sinh.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của luận văn được tổng hợp từ chuỗi quan trắc khí tượng - thủy văn giai đoạn 2011-2015 với nhiệt độ trung bình dao động từ 25,1°C đến 26,3°C, lượng mưa từ 173 mm đến 288 mm/năm, kết hợp số liệu điều tra thực địa từ đề tài khoa học công nghệ cấp Nhà nước mã số ĐTĐL.CN-15/16. Cỡ mẫu nghiên cứu bao gồm 20 vị trí quan trắc nước mặt (từ NM1 đến NM20) và 20 vị trí lấy mẫu trầm tích đáy (từ TT1 đến TT20) được định vị bằng tọa độ VN-2000 dọc 67 km chiều dài sông. Mạng lưới lấy mẫu được lựa chọn theo phương pháp phân tầng đại diện, bao phủ các khu vực nhạy cảm như ngã ba sông giao thoa triều, cống lấy nước đầm tôm, điểm tiếp nhận nước thải sinh hoạt và vùng nuôi ngao sinh thái.

Tổng cộng 80 mẫu nước mặt (thu ở tầng mặt sâu 20 cm) và 80 mẫu trầm tích đáy (thu ở độ sâu từ mặt đáy đến 20 cm) được thu thập qua 4 đợt khảo sát điển hình: đợt 1 (tháng 12/2016 - mùa mưa), đợt 2 (tháng 4/2017 - chuyển mùa), đợt 3 (tháng 6/2017 - mùa khô kiệt) và đợt 4 (tháng 9/2017 - đầu mùa lũ). Quy trình phân tích tuân thủ nghiêm ngặt hệ thống tiêu chuẩn quốc gia TCVN: TCVN 6001-1:2008 cho BOD5, TCVN 6491:1999 cho COD, TCVN 6660:2000 cho N-NH4+, TCVN 6193:1996 cho Chì, TCVN 8467:2010 cho Asen trầm tích và TCVN 6187-2:1996 cho Coliform. Các phương pháp này được lựa chọn nhờ tính chuẩn xác, độ tin cậy thực nghiệm cao và sự tương thích hoàn toàn khi đối chiếu với Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia QCVN 08-MT:2015/BTNMT (nước mặt) và QCVN 43:2012/BTNMT (trầm tích).

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Kết quả phân tích 80 mẫu nước mặt và 80 mẫu trầm tích qua 4 đợt quan trắc đã làm rõ bức tranh môi trường với các phát hiện then chốt sau:

Thứ nhất, hoạt động nuôi trồng thủy sản thâm canh là nguồn phát sinh ô nhiễm hữu cơ lớn nhất. Tổng diện tích nuôi thủy sản nước lợ đạt 1.075,55 ha năm 2016, tập trung cao tại huyện Núi Thành (452,8 ha, chiếm 42,1%) và huyện Thăng Bình (384,1 ha, chiếm 35,7%). Diện tích nuôi thâm canh đạt 227 ha (chiếm 21,11%) với mật độ thả tôm thẻ chân trắng từ 90 đến 120 con/m2, sử dụng lượng lớn thức ăn công nghiệp. Nước thau rửa đầm xả trực tiếp không qua lắng lọc đã khiến hàm lượng chất lơ lửng TSS và nhu cầu oxy hóa học COD tại các trạm tiếp nhận như NM11 (cầu Bình Nam) và NM15 (Tam Tiến) tăng cao rõ rệt so với vùng thượng lưu.

Thứ hai, chỉ số chất lượng nước ReWQI thể hiện sự suy giảm nghiêm trọng theo không gian và mùa. Trong mùa kiệt (tháng 6/2017), khi lưu lượng tự nhiên của sông suy giảm xuống chỉ còn vài chục mét khối mỗi giây, chỉ số ReWQI tại các đoạn sông qua huyện Thăng Bình và thành phố Tam Kỳ tụt xuống mức Trung bình và Kém (giá trị ReWQI dao động từ 50 đến 68 điểm), đặc trưng bởi sự thiếu hụt oxy hòa tan DO và nồng độ Coliform, N-NH4+ vượt giới hạn cho phép của QCVN 08-MT:2015/BTNMT cột B1.

Thứ ba, hàm lượng kim loại nặng trong trầm tích đáy có xu hướng lắng tích cực đại tại các vùng cửa sông. Dữ liệu từ 20 trạm trầm tích ghi nhận nồng độ Asen (As), Cadimi (Cd), Đồng (Cu), Chì (Pb), Kẽm (Zn) và Thủy ngân (Hg) tăng dần từ trung lưu về phía Cửa Đại và Cửa An Hòa. Trầm tích tại các khu vực tiếp nhận nước thải công nghiệp từ Khu kinh tế Chu Lai và cụm công nghiệp Tam Hiệp ghi nhận hàm lượng Cu và Cd tiệm cận ngưỡng giới hạn quy chuẩn QCVN 43:2012/BTNMT, tiềm ẩn nguy cơ tích tụ sinh học vào các loài động vật đáy hai mảnh vỏ.

Thảo luận kết quả

Cơ chế suy giảm chất lượng nước và tích tụ trầm tích trên sông Trường Giang chịu sự chi phối chặt chẽ của động lực học dòng chảy. Do sông tiếp nhận triều từ cả hai đầu Cửa Đại và Cửa An Hòa, hiện tượng triệt tiêu lưu tốc xuất hiện tại khu vực trung tâm huyện Thăng Bình, tạo nên điểm dừng triều có vận tốc dòng chảy xấp xỉ bằng 0 m/s. Vào mùa lũ, lượng bùn cát bồi lắng chiếm từ 75% đến 90% tổng lượng bùn cát cả năm, nhưng vào mùa khô dòng chảy yếu kết hợp hệ thống đăng nơm, ao tôm lấn chiếm lòng dẫn đã cản trở khả năng tự làm sạch tự nhiên của dòng sông.

Khi so sánh với các nghiên cứu tại lưu vực sông Mã (Thanh Hóa) với BOD5 trung bình từ 3,5 mg/l đến 13,2 mg/l và sông Nhuệ - Đáy, chất lượng nước sông Trường Giang có mức độ ô nhiễm hữu cơ tương đương ở các đoạn qua khu dân cư tập trung, nhưng lại mang tính chất phức tạp hơn do biến thiên độ mặn từ 0,5‰ đến 28‰ theo mùa. Dữ liệu thực nghiệm có thể được biểu diễn trực quan qua biểu đồ đường thể hiện tương quan nghịch biến giữa nồng độ DO và chỉ số COD, kết hợp bảng ma trận phân bố kim loại nặng trong trầm tích theo 4 vùng địa hình (độ cao từ 0m đến 20m) nhằm làm nổi bật vùng trũng tích tụ ô nhiễm tại huyện Núi Thành.

Đề xuất và khuyến nghị

Nhằm phục hồi chất lượng nước và kiểm soát ô nhiễm trầm tích sông Trường Giang, hệ thống 4 nhóm giải pháp được đề xuất triển khai cụ thể:

Thứ nhất, tái cấu trúc và quản lý chặt chẽ không gian nuôi trồng thủy sản. Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Nam cùng Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cần tiến hành rà soát quy hoạch toàn bộ 1.075,55 ha mặt nước nuôi trồng thủy sản; kiên quyết giải tỏa 100% diện tích ao nuôi và ngư cụ khai thác tận diệt lấn chiếm dòng chảy trước năm 2020. Bắt buộc 100% các hộ và doanh nghiệp nuôi thâm canh trên diện tích 227 ha phải xây dựng hệ thống ao lắng sinh học và xử lý nước thải đạt tiêu chuẩn trước khi xả ra môi trường.

Thứ hai, kiểm soát triệt để các nguồn thải công nghiệp và đô thị. Ban Quản lý Khu kinh tế mở Chu Lai và Sở Tài nguyên và Môi trường đẩy nhanh tiến độ hoàn thiện hệ thống xử lý nước thải tập trung cho 50 cụm công nghiệp trên địa bàn; nâng tỷ lệ cơ sở sản xuất có trạm xử lý nước thải đạt chuẩn từ 53,5% (77/144 cơ sở) lên 100% trong giai đoạn 2018-2022. Thiết lập trạm quan trắc tự động liên tục đối với các nguồn xả thải công nghiệp quy mô lớn đổ vào kênh dẫn xã Tam Hiệp.

Thứ ba, áp dụng các giải pháp kỹ thuật sinh thái và phục hồi rừng ngập mặn. Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh Quảng Nam chủ trì triển khai mô hình đất ngập nước nhân tạo dòng chảy bề mặt sử dụng các loài thực vật thủy sinh có khả năng hấp phụ kim loại nặng và dinh dưỡng cao như cây thủy trúc, ngổ trâu, rau muống. Triển khai kế hoạch trồng mới và phục hồi 150 ha rừng ngập mặn (cây đước, mắm, dừa nước) tại các vùng bãi bồi Cửa Đại và Cửa An Hòa đến năm 2025 nhằm tăng cường khả năng tự làm sạch của thủy vực.

Thứ tư, nạo vét khơi thông luồng lạch kết hợp vận hành mạng lưới giám sát định kỳ. Sở Giao thông Vận tải phối hợp các địa phương triển khai dự án nạo vét 67 km luồng sông Trường Giang, nâng lưu lượng dòng chảy mùa kiệt lên trên 40 m3/s để thau chua, rửa mặn và giải tỏa bồi lắng. Duy trì chương trình quan trắc định kỳ 4 đợt/năm tại 20 trạm nước mặt và 20 trạm trầm tích để cập nhật cơ sở dữ liệu môi trường.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và kết quả của luận văn mang giá trị ứng dụng thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường (Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Quảng Nam, Chi cục Bảo vệ Môi trường). Tài liệu cung cấp cơ sở dữ liệu quan trắc thực chứng tại 40 vị trí đo đạc, phục vụ trực tiếp cho công tác lập báo cáo hiện trạng môi trường 5 năm, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) và phân vùng xả thải trên lưu vực sông.

Thứ hai, chính quyền địa phương và cơ quan quy hoạch nông nghiệp (Ủy ban nhân dân các huyện Duy Xuyên, Thăng Bình, Núi Thành và thành phố Tam Kỳ). Dữ liệu điều tra chi tiết về 18 xã phụ cận và 1.075,55 ha đầm tôm giúp các nhà quản lý địa phương xây dựng phương án chuyển đổi sinh kế bền vững, giải tỏa lấn chiếm lòng sông và kiểm soát dịch bệnh thủy sản.

Thứ ba, các nhà khoa học, giảng viên và học viên cao học chuyên ngành Kỹ thuật môi trường, Quản lý tài nguyên nước. Luận văn là tài liệu tham khảo giá trị về phương pháp ứng dụng chỉ số ReWQI hiện đại, quy trình quan trắc phân tích 18 chỉ tiêu hóa lý nước mặt và trầm tích đáy trong điều kiện thủy văn cửa sông phức tạp.

Thứ tư, các doanh nghiệp đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và đơn vị tư vấn môi trường. Nghiên cứu cung cấp số liệu nền về khả năng chịu tải của môi trường tiếp nhận, hỗ trợ thiết kế tối ưu hóa công nghệ xử lý nước thải công nghiệp và nuôi trồng thủy sản.

Câu hỏi thường gặp

Nguyên nhân chính dẫn đến sự suy thoái chất lượng nước sông Trường Giang là gì? Sự suy thoái bắt nguồn từ áp lực kép: nước thải chưa qua xử lý từ 1.075,55 ha ao nuôi tôm (đặc biệt là 227 ha nuôi thâm canh) và 67 cơ sở sản xuất công nghiệp xả trực tiếp ra sông. Ngoài ra, đặc điểm thủy triều hai đầu triệt tiêu lưu tốc tại huyện Thăng Bình làm giảm sút nghiêm trọng khả năng tự làm sạch tự nhiên của dòng nước.

Chỉ số ReWQI có ưu điểm gì vượt trội so với các chỉ số chất lượng nước truyền thống? ReWQI do Phạm Ngọc Hồ phát triển đã khắc phục nhược điểm áp đặt thang điểm chủ quan của các mô hình cũ. Nhờ tích hợp trọng số khách quan và phân chia 5 cấp chất lượng phụ thuộc vào số lượng thông số khảo sát, ReWQI phản ánh chính xác mức độ ô nhiễm của 12 chỉ tiêu nước mặt mà không gặp hiện tượng đánh giá mơ hồ.

Sự phân bố kim loại nặng trong trầm tích sông Trường Giang có quy luật như thế nào? Hàm lượng các kim loại nặng gồm As, Cd, Cu, Pb, Zn và Hg có xu hướng tăng dần từ thượng lưu về phía hai cửa sông Cửa Đại và Cửa An Hòa. Hiện tượng bồi lắng 75% đến 90% lượng bùn cát mùa lũ kết hợp với dòng chảy triều chậm chạp là nguyên nhân chính giữ lại các hạt mịn liên kết kim loại nặng tại đáy sông.

Nuôi tôm tự phát gây ra những tác động tiêu cực nào đối với hệ thống sông? Việc đào đắp ao tôm tự phát ven sông làm biến dạng mặt cắt lòng dẫn, bồi lắng luồng lạch và cản trở thoát lũ trên 67 km chiều dài sông. Nước thải đầm tôm chứa nhiều chất hữu cơ, hóa chất xử lý đáy và mầm bệnh xả thẳng ra sông gây bùng phát dịch bệnh đốm trắng, phân trắng, đe dọa sinh kế cộng đồng.

Giải pháp kỹ thuật sinh thái nào phù hợp nhất để cải thiện chất lượng nước sông? Giải pháp tối ưu là xây dựng mô hình bãi lọc ngập nước nhân tạo kết hợp trồng bổ sung 150 ha rừng ngập mặn (đước, mắm) tại các vùng bãi bồi. Thảm thực vật thủy sinh giúp hấp phụ từ 40% đến 60% lượng nitơ, photpho dư thừa và cố định kim loại nặng trong trầm tích một cách bền vững, chi phí thấp.

Kết luận

  • Đánh giá toàn diện hiện trạng chất lượng môi trường trên toàn tuyến sông Trường Giang dài 67 km thông qua 80 mẫu nước mặt và 80 mẫu trầm tích đáy thu thập tại 40 vị trí quan trắc qua 4 đợt khảo sát mùa mưa và mùa khô.
  • Định lượng chính xác các nguồn thải trọng điểm, làm rõ tác động tiêu cực từ 1.075,55 ha diện tích nuôi trồng thủy sản nước lợ, 50 cụm công nghiệp và hoạt động sinh hoạt của 151.277 dân cư thuộc 18 xã phụ cận.
  • Ứng dụng thành công chỉ số ReWQI để phân cấp hiện trạng nước mặt, chỉ ra sự suy giảm chất lượng nước xuống mức Trung bình và Kém tại vùng trung lưu trong mùa khô kiệt do tác động của điểm dừng triều thủy văn.
  • Xác lập quy luật tích tụ kim loại nặng trong trầm tích đáy tăng dần về phía các cửa biển Cửa Đại và Cửa An Hòa, nhận diện các rủi ro sinh thái đối với nguồn lợi thủy sản hai mảnh vỏ.
  • Đề xuất hệ thống 4 nhóm giải pháp chiến lược đồng bộ giữa quy hoạch giải tỏa lòng sông, đầu tư trạm xử lý nước thải công nghiệp và áp dụng công nghệ sinh thái đất ngập nước.

Công trình luận văn là đóng góp học thuật và thực tiễn quan trọng, hoàn thiện cơ sở khoa học cho Đề tài độc lập cấp Nhà nước mã số ĐTĐL.CN-15/16. Trong lộ trình 2018-2025, các cơ quan ban ngành cần khẩn trương hiện thực hóa các giải pháp nạo vét luồng lạch, kiểm soát 100% trạm xả thải công nghiệp và mở rộng diện tích rừng ngập mặn. Các nhà nghiên cứu và nhà quản lý hãy chủ động khai thác cơ sở dữ liệu này để chung tay hành động vì sự phát triển bền vững của lưu vực sông Trường Giang và tỉnh Quảng Nam.