MỞ ĐẦU 1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Ninh Thuận có nhiều tiềm năng để phát triển một nền kinh tế đa dạng và năng động. Trong đó, sản xuất nông nghiệp giai đoạn hiện nay vẫn giữ vai trò chủ đạo. Mặc dù còn tồn tại nhiều khó khăn, tốc độ tăng trưởng còn thấp, song những năm qua Ninh Thuận đã gặt hái được những thành tựu KT-XH đáng kể. Cùng với đó, các mục tiêu và định hướng phát triển đến năm 2025 và tầm nhìn 2035 đã được xây dựng và hoạch định cụ thể.
Giai đoạn hiện nay, bên cạnh nền kinh tế phát triển đa dạng, với thế mạnh phát triển công nghiệp năng lượng sạch (điện gió, năng lượng mặt trời), điện hạt nhân, là trung tâm sản xuất muối công nghiệp chính của cả nước thì phát triển kinh tế xã hội của tỉnh cũng mang đến những hệ lụy, tác động xấu đến môi trường. Các tác động chính ảnh hưởng đến môi trường trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận trong giai đoạn này chủ yếu thuộc lĩnh vực công nghiệp, hoạt động sản xuất phát sinh nhiều chất thải gây ảnh hưởng đến chất lượng nguồn nước, môi trường xung quanh như các hoạt động sản xuất của các cơ sở sản xuất trong các khu, cụm công nghiệp; hoạt động khai thác khoáng sản; sản xuất muối công nghiệp. Ngoài ra, lĩnh vực nông nghiệp, nhất là chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản và các làng nghề cũng có những tác động tiêu cực đến môi trường nước, không khí. Ninh Thuận có hệ thống sông Cái với chiều dài khoảng 120 km, bắt đầu ở huyện Khánh Sơn, tỉnh Khánh Hòa và kết thúc tại phường Đông Hải, Tp.
Phan Rang - Tháp Chàm. Hệ thống sông Cái đóng vai trò huyết mạch của toàn tỉnh, dòng chính sông Cái có chức năng cung cấp nước sinh hoạt, nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, phục vụ các hoạt động dân sinh kinh tế, du lịch, điều tiết dòng chảy, tiêu thoát lũ. Và kết quả quan trắc trong giai đoạn qua gần đây cho thấy: theo thời gian vào giai đoạn 2012 - 2014 chất lượng nước có dấu hiệu ổn định dao động không nhiều qua các năm, và hầu hết đều đạt quy chuẩn cho phép, tuy nhiên vào năm 2015 hàm lượng ô nhiễm chất hữu cơ, dinh dưỡng có dấu hiệu tăng cao và vượt quy chuẩn cho phép, đặc biệt tại kênh Bắc nhánh Phan Rang và nhánh Ninh Hải. 1 Theo số liệu quan trắc chất lượng nước tại một số vị trí trên lưu vực sông Cái đã có dấu hiệu ô nhiễm hữu cơ, được thể hiện thông qua hàm lượng DO và BOD5 trong nguồn nước.
DO trong nước mặt kênh Bắc nhánh Phan Rang thấp vào năm 2011, 2012. Nồng độ BOD5 tuy chưa vượt quy chuẩn song có xu hướng tăng dần qua các năm; Nguồn nước mặt bị ô nhiễm Fe, hầu hết các giá trị quan trắc đều vượt QCVN 08: 2008/BTNMT. Điển hình là tại kênh Nam đoạn từ trạm Thủy Nông (Phước Dân) đến cống 26 (An Hải), nồng độ Fe lên đến 3,9 mg/L Ô nhiễm dinh dưỡng thể hiện rõ qua thông số N-NH4+. Nhiều vị trí quan trắc ở kênh Bắc nhánh Phan Rang và kênh Bắc nhánh Ninh Hải có giá trị đo đạc vượt quy chuẩn, trong đó cao nhất phải kể đến là khu vực Mương Cố (Tấn Tài) thuộc kênh Bắc nhánh Phan Rang.
Ô nhiễm coliforms trong nước mặt trên địa bàn tỉnh khá đáng kể, nồng độ dao động trong khoảng 12 x 103 - 5,7 x 105 MPN/100mL, vượt QCVN 08: 2008/BTNMT/ từ 1,6 - 77,0 lần, cao nhất là khu vực kênh Bắc nhánh Phan Rang. Nguyên nhân: Do sông Cái và hệ thống kênh Bắc, kênh Nam tiếp nhận nước thải từ hoạt động sản xuất công nghiệp, nông nghiệp và sinh hoạt; đồng thời lượng nước xả từ nhà máy thủy điện Đa Nhim có hàm lượng Fe cao (do đặc điểm địa chất của khu vực tỉnh Lâm Đồng) nên đã làm cho các thông số Coliform và Fe cao. Hiện nay, chỉ có thành phố Phan Rang - Tháp Chàm là đã có 01 trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung với công suất 5.000 m3/ngày đêm; các thị trấn không có trạm xử lý nước thải sinh hoạt tập trung, cùng với sự gia tăng tốc độ đô thị hóa. Trước tình hình đó đề tài nghiên cứu “Đánh giá dự báo chất lượng nước trên lưu vực sông Cái tỉnh Ninh Thuận và đề xuất chương trình quản lý giám sát chất lượng nước” là một nhiệm vụ cấp thiết, có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài này sẽ giúp cơ quan quản lý đánh giá và dự báo mức độ ô nhiễm của lưu vực sông Cái. Trên cơ sở đó có kế hoạch sử dụng và bảo vệ nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm sông Cái hiệu quả phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận trong tương lai. 2 2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU - Đánh giá và dự báo chất lượng nước trên lưu vực sông Cái đến năm 2025 tầm nhìn đến năm 2035 để làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chương trình, kế hoạch, đề án bảo vệ nguồn nước sông Cái đạt Quy chuẩn chất lượng nước mặt loại A theo như ban hành và phân bổ của Luật bảo vệ môi trường năm 2014 và nghị định số 38/2015/NĐ-CP ban hành. Đồng thời, làm cơ sở định hướng các mục tiêu chính của đề tài sẽ phải đạt, cụ thể như sau: - Đánh giá hiện trạng, dự báo xả thải vào sông Cái, và diễn biến chất lượng nguồn nước sông Cái đến năm 2025 và đến năm 2035.
- Xác định khả năng tiếp nhận nước thải, khả năng tự làm sạch và sức chịu tải của sông Cái. Trên cơ sở đó đề xuất giải pháp, chương trình quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm sông Cái hiệu quả phù hợp theo các kịch bản phát triển kinh tế xã hội đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2035 của tỉnh Ninh Thuận trong tương lai. 3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU - Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng nguồn nước trên lưu vực sông Cái. - Phạm vi nghiên cứu: Sông Cái Phan Rang – tỉnh Ninh Thuận.
4 CÁCH TIẾP CẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 4.1 Cách tiếp cận - Tiếp cận dựa vào cơ sở dữ liệu, số liệu quan trắc chất lượng nước trên lưu vực sông Cái cũng như số liệu về các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận, chọn lọc phân tích các kết quả nghiên cứu trước đó liên quan đến đề tài. - Tiếp cận tích hợp thông tin (các hoạt động phát triển kinh tế xã hội, các loại hình ảnh, ảnh viễn thám, bản đồ và hệ thống GIS. - Tiếp cận thực tế: Đi khảo sát thực địa, tìm hiểu các hồ sơ, tình hình hoạt động của các đối tượng thuộc lưu vực sông Cái.2 Phương pháp nghiên cứu - Phương pháp kế thừa: Luận văn sử dụng, kế thừa kết quả nghiên cứu, đề tài, dự án có liên quan tới sông Cái – tỉnh Ninh Thuận (Dữ liệu, số liệu quan trắc chất lượng nước trên lưu vực sông cái của sở TNMT tỉnh Ninh Thuận). - Phương pháp điều tra, khảo sát thu thập số liệu: Nhằm đánh giá hiện trạng, thu thập số liệu phục vụ công tác tính toán, đánh giá.
- Phương pháp thống kê phân tích: Thống kê và phân tích các số liệu đo đạc, thu thập được để phục vụ tính toán phân tích. - Phương pháp ứng dụng mô hình: Luận văn sử dụng các mô hình về tính toán MIKE 11;. 5 KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC - Đánh giá và dự báo mức độ ô nhiễm của lưu vực sông Cái. - Mô phỏng khả năng tiếp nhận nước thải, khả năng tự làm sạch và sức chịu tải của sông Cái.
- Đề xuất giải pháp, chương trình quản lý, sử dụng và bảo vệ nguồn nước, kiểm soát ô nhiễm sông Cái hiệu quả phù hợp với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Ninh Thuận trong tương lai. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU CHẤT LƯỢNG NƯỚC. VÀ KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1.1 Tổng quan về các nghiên cứu chất lượng nước 1.1 Nghiên cứu trên thế giới Trên thế giới hiện nay tùy thuộc vào vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên, hiện trạng chất lượng nước của mỗi vùng, mỗi quốc gia mà có nhiều cách tiếp cận và xây dựng mô hình chỉ số chất lượng nước khác nhau, trong đó một số mô hình chỉ số chất lượng nước (WQI) được áp dụng phổ biến trên thế giới. Theo Meybeck et al.
(1996), CLN thể hiện sự thích hợp của nguồn nước để duy trì các chu trình lý – hóa – sinh xảy ra trong nước và phục vụ các mục đích sử dụng khác nhau. Chất lượng nước có thể được xác định bởi một loạt các tham số khác nhau nhằm xác định mục đích sử dụng của từng nguồn nước. Chất lượng nước phụ thuộc vào hàm lượng các thông số lý – hóa – sinh có trong nước. Trong khi đó, hàm lượng những thông số này phụ thuộc vào các yếu tố tự nhiên (như địa chất, địa hình, khí tượng, thủy văn, sinh học) của lưu vực sông và dao động theo mùa tùy thuộc vào điều kiện dòng chảy, thời tiết và mực nước.
Ngoài ra, sự can thiệp của con người cũng có ảnh hưởng đáng kể đến chất lượng nước: thay đổi dòng chảy thủy văn (xây dựng các đập nước, thoát nước…), xả thải gây ô nhiễm (nước thải sinh hoạt, công nghiệp, đô thị, lây lan hóa chất trên đất nông nghiệp thuộc lưu vực sông. Theo Cooke et al. Do vậy, để khắc phục các hạn chế trên, chỉ số CLN (Water Quality Index – WQI) được xây dựng và ứng dụng. WQI là một chỉ số được tính toán từ các thông số quan trắc chất lượng nước, dùng để mô tả định lượng về chất lượng nước và khả năng sử dụng của nguồn nước đó; được biểu diễn qua một thang điểm (Tổng cục Môi trường, 2011).
Nghiên cứu chỉ số CLN được đề xuất và áp dụng đầu tiên tại Mỹ vào những năm 1965 – 1970; sau đó được nghiên cứu, phát triển và ứng dụng thành công ở nhiều quốc gia như: Canada, Anh, Úc, Việt Nam…. WQI của Quỹ Vệ sinh Quốc gia Mỹ (National Sanitation Foundation-NSF): được dùng phổ biến nhất trên thế giới, xây dựng dựa theo phương pháp Delphi, tổng hợp ý 5 kiến của các chuyên gia khắp nước Mỹ để lựa chọn các thông số DO, Fecal Coliform, BOD5, pH, NO3-, PO43-, Nhiệt độ, Độ đục và TS từ đó đánh giá được CLN. WQI của bang Origon: phân tích và phát triển chỉ số WQI dựa trên WQI_NFS với 8 thông số chính là: Nhiệt độ, pH, DO, BOD, TN, TP, TS và coliform, phương pháp Delphi và Rating Curve được sử dụng để tính toán chỉ số phụ.