CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẬT LIỆU BSFO 1. Vật liệu multiferroic nhóm ABO3 1. Cấu trúc tinh thể Vật liệu multiferroic ABO3 là nhóm vật liệu multiferroic đơn pha, nghĩa là chúng đồng nhất về thành phần hóa học nhưng thể hiện đồng thời tồn tại trật tự sắt điện và sắt từ hoặc phản sắt từ trong cùng một khoảng nhiệt độ. Hầu hết các multiferroics nhóm ABO3 có cấu trúc tinh thể dạng perovskite.
Công thức phân tử chung của vật liệu multiferrroic cấu trúc perovskite là ABO3, trong đó A là các cation kim loại kiềm thổ hoặc nguyên tố đất hiếm như Ba, Ca, Bi, Y,…, B là các cation kim loại chuyển tiếp nhóm 3d như Fe, Co, Cr, Ti,… Ở vị trí của O có thể là các nguyên tố khác (F-, Cl-) nhưng phổ biến nhất vẫn là ôxy [1]. Các vật liệu có cấu trúc perovskite ABO3 điển hình như BaTiO3, BiFeO3, Bi2FeCrO6, YMnO3,. Cấu trúc tinh thể perovskite ABO3 trong trường hợp lí tưởng được mô tả trên hình 1. Ô mạng cơ sở là một hình lập phương với 8 đỉnh là các cation A, tâm của 6 mặt của hình lập phương là các anion O và cation B ở tâm của hình lập phương.
Như vậy, đặc trưng quan trọng của cấu trúc perovskite là tồn tại các bát diện BO6 nội tiếp trong một ô mạng cơ sở với 6 anion ôxy tại các đỉnh của bát diện và một cation B tại tâm bát diện [4], [5]. a) Cấu trúc tinh thể perovskite ABO3 trong trường hợp lí tưởng b) Sự sắp xếp của các bát diện trong cấu trúc perovskite lý tưởng [8] 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Vật liệu ABO3 mà khi ion A hoặc ion B được thay thế một phần bởi các ion khác thì cấu trúc của vật liệu sẽ thay đổi. Cụ thể như với A có thể là các nguyên tố họ đất hiếm Ln như La, Nd, Pr,… được thay thế một phần bởi các kim loại kiềm thổ như Sr, Ba, Ca,… hoặc các nguyên tố như: Ti, Ag, Bi, Pb…; B có thể là Mn, Co được thay thế một phần bởi Fe, Ni,…. Tùy theo ion và nồng độ pha tạp mà cấu trúc tinh thể sẽ bị thay đổi không còn là cấu trúc lý tưởng, sẽ tạo ra trạng thái hỗn hợp hóa trị và sai lệch cấu trúc làm cho hợp chất nền trở thành vật liệu có nhiều hiệu ứng lý thú như: hiệu ứng nhiệt điện, hiệu ứng từ trở khổng lồ, hiệu ứng từ nhiệt [4].
Một vật liệu có cấu trúc perovskite ABO3 điển hình là BiFeO3 có cấu trúc tinh thể thường là cấu trúc mặt thoi thuộc nhóm không gian R3c. Khi vị trí Bi hoặc vị trí Fe được thay thế bằng nguyên tố khác nhau, do có sai khác về bán kính ion, về độ âm điện và hoá trị nên bát diện bị quay và cấu trúc mặt thoi có thể biến đổi thành cấu trúc khác. Cụ thể là, khi pha tạp Sm với nồng độ 12,5%, tinh thể BFO có cấu trúc mặt thoi (nhóm không gian R3c) chuyển sang cấu trúc tam tà (nhóm không gian P1) [23]. Cùng trên nền BFO, tác giả Lưu Hoàng Anh Thư đã tiến hành thay thế Bi bởi Eu.
Khi tỉ lệ Eu là 15% và 20% cho kết quả vật liệu chuyển từ cấu trúc tinh thể mặt thoi (rhombohedral) thuộc nhóm không gian R3c sang cấu trúc trực giao (orthorhombic) thuộc nhóm không gian Pnma [8]. Cũng nghiên cứu về vật liệu BiFeO3, tác giả Vũ Thị Tuyết thay thế một phần Fe trong vật liệu BFO bởi Mn ở các tỉ lệ 2%, 4%, 6%, 8%, 10% nhưng vật liệu thu được vẫn có cấu trúc tinh thể mặt thoi (rhombohedral) thuộc nhóm không gian R3c [6]. Hiệu ứng từ - điện Vật liệu multiferroic với việc tồn tại nhiều tính chất ferroic trong cùng một pha cấu trúc biểu hiện nhiều hiệu ứng từ - điện phức tạp, hứa hẹn khả 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năng tạo ra các loại vật liệu mới. Do vừa có độ từ hóa tự phát (có thể tái định hướng bởi từ trường ngoài), vừa có độ phân cực điện tự phát (có thể tái định hướng bởi điện trường ngoài) nên ngoài các hiệu ứng độc lập như vật liệu sắt điện, sắt từ thông thường, trong vật liệu multiferroic còn có hiệu ứng từ - điện, nghĩa là vật liệu bị phân cực điện khi đặt trong từ trường ngoài hoặc ngược lại, vật liệu bị phân cực từ khi có điện trường ngoài đặt vào.
Việc tồn tại đồng thời, lai hóa, cạnh tranh và kiểm soát lẫn nhau giữa các tính chất được mô tả trên Hình 1. Tương quan giữa các tính chất của vật liệu multiferroic [5] Hơn nữa, vật liệu multiferroic có độ biến dạng tự phát có thể tái định hướng bởi trường cơ học hoặc trường điện từ. Tức là, khi chịu tác dụng của từ trường ngoài, pha sắt từ sẽ bị biến dạng tạo nên pha từ giảo. Sự biến dạng này sẽ tạo ra ứng suất truyền sang pha sắt điện làm thay đổi độ phân cực điện trong vật liệu do hiệu ứng áp điện xảy ra trong vật liệu.
Khi đó trong vật liệu sẽ xuất hiện các điện tích cảm ứng (xuất hiện điện trường) gây bởi từ trường ngoài. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Đảo từ bằng điện trường ngoài [3] Để đặc trưng cho sự tương tác giữa các tính chất từ và điện, người ta đưa ra hệ số điện từ: dE ME (1.1) dH Hiệu ứng từ - điện tồn tại ở một số vật liệu multiferroic đơn pha cấu trúc ABO3 có cấu trúc perovskite bao gồm vật liệu BFO và trong một số vật liệu multiferroic tổ hợp như Terfenol-D và PZT, ferit và PZT [3]. Hiệu ứng từ - điện trong các vật liệu multiferrioc có tiềm năng ứng dụng lớn trong việc tạo ra các linh kiện điện tử thông tin thế hệ mới như các bộ điều biến sóng điện từ, các bộ nhớ thế hệ mới, các linh kiện khóa từ điện, máy phát sóng spin và nhiều linh kiện điện tử spin khác [14], [24].
Vật liệu Bi1-xSrxFeO3 1. Cấu trúc và tính chất từ của BiFeO3 Ferrite bismuth BiFeO3 là một multiferroics điển hình, kết hợp trong mình các tính chất từ và tính chất sắt điện. Vật liệu BiFeO3 thường tồn tại ở dạng cấu trúc mặt thoi thuộc nhóm không gian R3c (Hình 1. Ô cơ sở của tinh thể BFO có thể được biểu diễn dưới dạng lục giác (hexagonal) với các thông số mạng là ah = bh = 5,571Å và ch= 13,868Å hoặc giả lập phương (pseudo-cubic) hay hình thoi (rhombohedral) với hằng số mạng ac= 3,963Å, α = 89,4º (Hình 1.
8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Cấu trúc ô cơ sở của tinh Hình 1. Cấu trúc mặt thoi của thể BFO ở dạng lục giác và giả lập vật liệu BiFeO3 [1] phương xây dựng trên nhóm không gian R3c [8] Trong trường hợp lí tưởng, BiFeO3 tồn tại ở dạng cấu trúc lập phương. Trong cấu trúc này, 8 nguyên tử Bi nằm tại các đỉnh của hình lập phương, 6 nguyên tử O nằm tại tâm của các mặt hình lập phương và nguyên tử Fe nằm tại tâm của hình lập phương tạo thành bát diện FeO6.
Tuy nhiên, thực tế thì cấu trúc lập phương có tính đối xứng cao và thường không bền dẫn tới chuyển sang cấu trúc mặt thoi. Trong cấu trúc mặt thoi, mỗi bát diện FeO6 có bốn nguyên tử O nằm trong mặt phẳng bát diện, hai nguyên tử O nằm trên trục bát diện và các liên kết của chúng với Fe là khác nhau. Cấu trúc này có ô cơ sở biểu diễn dưới dạng lục giác với các hằng số mạng ahex= 5,579Å và chex= 13,869Å [5]. Tuy nhiên, hình ảnh trực quan thường quan sát thấy cấu trúc tinh thể của BiFeO3 là cấu trúc giả lập phương với hằng số mạng apc = 3,963Å và αpc = 89,4o [5].
BiFeO3 là vật liệu phản sắt từ kiểu G, trong đó mômen từ của ion Fe3+ nằm trong mặt phẳng (111) và đối song trong hai mặt phẳng kề nhau (hình 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Mỗi ion Fe3+ được bao quanh bởi 6 ion O2-. Vật liệu này thể hiện trật tự từ ở nhiệt độ nhỏ hơn nhiệt độ Neel TN = 643 K [5]. Trật tự phản sắt từ kiểu G [5] Vật liệu BFO thể hiện tính sắt từ yếu ở nhiệt độ thấp (khoảng dưới 30K).
Các nghiên cứu thực nghiệm cũng cho thấy khi ở nhiệt độ phòng, vật liệu BFO thể hiện tính sắt từ yếu, có từ độ bão hòa nhỏ (Hình 1. Chu trình từ trễ của vật liệu BFO ở nhiệt độ phòng [1] 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Sự ảnh hưởng của tỷ lệ thay thế ion Bi3+ bởi ion Sr2+ lên cấu trúc, tính chất vật liệu BSFO Các nghiên cứu chế tạo vật liệu BSFO sử dụng công nghệ khác nhau, với các tỷ lệ thay thế ion Bi3+ bởi ion Sr2+ khác nhau, cho thấy sự thay đổi về đặc trưng cấu trúc, tính chất từ, hình thái hạt của mẫu. Tác giả Dinesh Varshney, Ashwini Kumar đã nghiên cứu về cấu trúc, quang phổ Raman, hệ hằng điện môi của hệ vật liệu Bi1-xSrxFeO3 được chế tạo bằng phương pháp sol-gel [13].8 trình bày giản đồ nhiễu xạ tia X của hệ vật liệu Bi1-xSrxFeO3 với các tỉ lệ thay thế lần lượt là x = 0; 0,15; 0,175; 0,25.
Giản đồ nhiễu xạ tia X của hệ mẫu Bi1-xSrxFeO3 (x = 0; 0,15; 0,175; 0,25) [13] Kết quả cho thấy, ở mẫu BFO thuần túy tồn tại pha thứ cấp Bi2Fe4O9. Ở các mẫu có chứa Sr, tỷ phần pha thứ cấp này giảm đáng kế, đồng thời các đỉnh nhiễu xạ có xu hướng dịch về phía giá trị góc 2 lớn. Kết quả cũng chỉ ra rằng các đỉnh kép tại vị trí góc 2θ khoảng 52º và 57º trên giản đồ nhiễu xạ tia X của mẫu BFO được nhập thành một đỉnh với các mẫu chứa Sr. Thông qua các tính toán, các giả xác định rằng sự thay thế một phần ion Bi3+ bởi Sr2+ đã dẫn tới sự thay đổi cấu trúc tinh thể từ cấu trúc hình thoi (R3c) sang cấu trúc giả tứ giác (P4/mmm) (hình 1.9), khi tỷ lệ Sr trong mẫu thay đổi thì kích thước của ô cơ sở cũng biến đổi theo.
Các đặc trưng cơ bản của cấu trúc tinh thể và thể tích ô cơ sở của hệ vật liệu BSFO được trình bày trong bảng 1. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Các thông số về thể tích, không gian mạng của hệ vật liệu BSFO Bi1-xSrxFeO3 Vật liệu x = 0,0 x = 0,15 x = 0,175 x = 0,25 Nhóm không gian R3c P4/mmm P4/mmm P4/mmm Thể tích ô cơ sở 373,812 62,167 6 ,919 6 ,359 (Å3) Hình 1.