Chương I: Tổng quan về pin nhiên liệu màng trao đổi proton. Trình bày tổng quan về pin nhiên liệu và pin nhiên liệu màng trao đôi Proton. Chương II: Cơ sở lý thuyết, thực nghiệm và tính toán phổ Raman. Trình bày về cơ sở lý thuyết, kỹ thuật thực nghiệm, phương pháp tính toán và mô phỏng phổ Raman trên máy tính.
Chương III: Kết quả phân tích phố Raman thực nghiệm. Trình bày các kết quả phân tích phố và thảo luận về phô Raman thực nghiệm của các mau ETFE nguyên thủy, ETEE ghép mạch styrene và ETEE sunfo hóa. Chương IV: Kết quả tính toán mô phỏng phố Raman. Trình bày các kết quả thu được và thảo luận về tính toán mô phỏng phô Raman của mẫu ETFE nguyên thủy, ETEE ghép mạch styrene và ETFE sunfo hóa.
Việc thảo luận và so sánh kết quả phô Raman giữa thực nghiệm và tính toán mô phỏng cũng được đưa ra trong chương này. CHUONGI: TONG QUAN VE PIN NHIEN LIEU MANG TRAO DOI PROTON 1. Tổng quan về pin nhiên liệu 1. Lịch sử Năm 1839, Sir William Robert Grove đã chế tạo ra mô hình thực nghiệm đầu tiên của tế bào nhiên liệu (fuel cell), bao gồm hai điện cực platin được bao trùm bởi hai ống hình trụ băng thủy tỉnh, một ống chứa hiđrô và ống kia chứa ôxy [26] Hai điện cực được nhúng trong axit sulfuric loãng là chất điện phân tạo thành dòng điện một chiều.
Vì việc chế tạo các hệ thống tế bào nhiên liệu quá phức tạp và giá thành đắt nên công nghệ này dừng lại [25]. Đến đầu thập niên 1950, ngành du hành vũ trụ và kỹ thuật quân sự cần dùng một nguồn năng lượng nhỏ gọn và có năng suất cao. NASA đã quyết định dùng cách sản xuất điện trực tiếp bằng phương pháp hóa học thông qua tế bào nhiên liệu trong các chương trình du hành vũ trụ Gemini và Apollo. Các tế bảo nhiên liệu sử dụng trong chương trình Gemini được NASA phát triển vào năm 1965.
Với công suất khoảng IkW, các tế bào nhiên liệu này đã cung cấp đồng thời điện và nước uống cho các phi hành gia vũ trụ. Đầu thập niên 1990, nhờ chế tạo được các màng (membrane) có hiệu quả cao, các vật liệu có khả năng chống ăn mòn hóa học tốt hơn và nhờ có công cuộc tìm kiếm một nguồn năng lượng thân thiện môi trường cho tương lai, tế bảo nhiên liệu được phát triển mạnh. Thông qua đó việc sử dụng tế bào nhiên liệu dành cho các mục đích dân sự đã trở thành hiện thực. Ngày nay khả năng sử dụng trải dài từ vận hành ô tô, sưởi nhà qua các nhà máy phát điện có công suất hằng 100 kW cho đến những ứng dụng bé nhỏ như trong điện thoại di động hoặc máy vi tính xách tay.
Cấu tạo và nguyên lý hoạt động Cấu tạo chung của pin nhiên liệu gồm có 2 điện cực là cực đương (anode) và cực âm (cathode), giữa hai điện cực còn chứa chất điện phân (electrolyte) dùng để vận chuyền các hạt tải điện từ điện cực này sang điện cực khác và chất xúc tác làm tăng tốc độ phan ứng. Hai điện cực (electrodes) được làm bằng chất dẫn điện (kim loại, carbon,. Hai khí này muốn tác dụng với nhau nhưng đã bị ngăn cách bởi chất điện phân khiến hydro bị phân ly thành một proton và một điện tử. Các phản ứng hóa học tạo ra dòng điện xây ra tại hai điện cực này.
Proton di chuyên tự do qua lớp chất điện phân trong khi điện tử buộc phải mất một con đường khác xung quanh nó, tạo ra một dòng điện trước khi tái kết hợp với H* và O7 tạo ra một phân tử HạO. Hydrogen —® @ @ Anode (-) Cathode(+) & Water Electrolyte Hình 1. Sơ đồ cấu tạo của pin nhiên liệu Tùy thuộc vào từng loại pin nhiên liệu mà chất điện phân có thê 6 thé rắn, lỏng hoặc có cấu trúc màng. Loại màng trong các pin nhiên liệu hoạt động ở nhiệt độ thấp thường là Nafion, chỉ cho phép những ion thích hợp đi qua giữa anode và cathode của pin nhiên liệu mà không cho phép các electron di chuyên qua nó.
Ngoài ra, đề thúc đây các phản ứng hóa học xảy ra, người ta bố sung chất xúc tác vào giữa các điện cực và chất điện giải bằng nhiều cách khác nhau tùy từng loại pin nhiên liệu. Chất xúc tác có thể là vật liệu của điện cực, hoặc là một chất khác được đặt tiếp xúc giữa các điện cực và lớp điện phân hoặc được phủ trực tiếp lên chất điện phân. Mặc dù chất xúc tác trong các loại pin nhiên liệu có thê khác nhau về vật liệu vả câu tạo, nhưng chúng đêu có cùng công dụng là thúc đây các phản ứng hóa học, giảm năng lượng hoạt hóa của các quá trình hóa học. Chất xúc tác thường dùng trong pin nhiên liệu là Platin và hợp kim của platin với kim loại khác như Ru, Ni, Co,.
Tuy có nhiều loại pin nhiên liệu nhưng nhìn chung nguyên lý hoạt động của chúng đều có những nét tương đồng là: nhiên liệu đi vào anode, nơi đây sẽ diễn ra quá trình oxy hóa để tạo thành các ion H* và electron. Khi tiếp xúc với lớp màng nơi điện cực thì chỉ duy nhất các ion H* hay proton đi xuyên trực tiếp từ anode sang cathode, còn các electron thì bị giữ lại và phải đi theo một hệ thống dây dẫn để qua cathode. Sự di chuyên của electron sinh ra dòng điện một chiều từ cathode sang anode. Cũng trong thời gian đó, khí oxy được lấy từ không khí đi vào cathode.
Khi tiến đến dần cathode, khí oxy này sẽ tiếp xúc và nhận các electron đề hình thành nên các ion oxy. Tùy vào từng loại pin nhiên liệu mà các ion oxy này có thê sử dụng với mục đích khác nhau. Chúng có thể trực tiếp tác dụng với ion hydro ở cathode để tạo thành nước, hoặc đi xuyên qua lớp màng ở điện cực dương tiến đến các ion H* ở cực âm và tạo ra nước. Ở một số pin nhiên liệu sử dụng nguồn nhiên liệu là Methanol (CH3OH), CH, thi sản phâm cuối được tạo ra có thêm CO2.
Nhưng lượng khí này được tạo ra thấp hơn rất nhiều lần so với lượng khí thải ra ở động cơ đốt trong. Phân loại Pin nhiên liệu được phân loại theo nhiều cách khác nhau như sau: e Phan loại theo nhiệt độ hoạt động. « _ Phân loại theo các chất tham gia phản ứng. e Phan loai theo dién cực.
« _ Phân loại theo các chất điện phân (cách phân loại phổ biến nhất). Phân loại pin nhiên liệu theo chất điện phân Chất Nhiệt „| Hiệu Tên điện công độ hoạt miện suất suất (hệ phân suât động (tê bảo) thống) Pin nhiên liệu màng trao | Màng 1W- 500 | 50- 50-70% | 30-50% đổi proton (PEMFC — polymer | kW 100°C proton exchange (Nafion membrane fuel cell) ) Pin nhiên liệu dùng Màng 100 90- 20-30% |10-25% methanol trực tiếp polymer | mW- 120C (DMFC- Direct Methanol 1kW Fuel Cell) Pin nhiên liệu axit AxIt <10 MW | 150- 55% 40% photphoric (PAFC- photphor 200°C phosphoric acid fuel cell) |ic nông chay Pin nhién liéu kiém Dung 10- <80°C 60-70% | 62% (AFC- Alkaline Fuel dich 200kW Cell) kiém Pin nhiên liệu muỗi Muối | 100MW | 600- 55% 45-55% cacbonat nóng chảy kiềm 650% (MCFC- Molten cacbonat carbonate fuel cell) nong chay Pin nhién liéu oxit ran Oxit <100 500- 60-65% | 55-60% (SOFC - Solid oxide fuel | nông MW 1100°C cell) chay 1. Hiệu suất theo lý thuyết Hiệu suất năng lượng của một hệ thống hay một thiết bị biến đổi năng lượng được tính bằng tỉ số giữa năng lượng có ích đi ra từ hệ và tổng năng lượng đưa vào, hoặc bằng năng lượng ra có ích theo tỉ lệ phần trăm của tổng năng lượng đầu vào. Trong trường hợp của pin nhiên liệu, năng lượng đầu ra hữu ích được tính bằng năng lượng điện được sản xuất ra bởi hệ thống.
Năng lượng đầu vào là năng lượng trong nhiên liệu. Theo bộ năng lượng Mỹ, các pin nhiên liệu thường có hiệu suất khoảng 40-60% [29], cao hơn so với vài hệ thống sản sinh năng lượng khác (chăng hạn động cơ đốt trong của một chiếc ô tô là 25%). Khi tính cả nhiệt và năng lượng của hệ, nhiệt được sinh ra từ pin nhiên liệu được thu lại và đưa vào sử dụng thì hiệu suất của hệ tăng lên đến 85-90% [10]. Hiệu suất tối đa trên lý thuyết của bất kỳ loại hệ thống phát điện nào cũng không bao giờ đạt được trong thực tế và không xem xét các bước khác trong quá trình phát điện như sản xuất, vận chuyển và lưu trữ nhiên liệu và chuyền đổi điện năng thành cơ năng.
Tuy nhiên, phép tính này cho phép so sánh các kiểu phát điện khác nhau. Hiệu quả năng lượng lý thuyết tối đa của pin nhiên liệu là 83%, hoạt động ở mật độ năng lượng thấp và sử dụng hydro và oxy tinh khiết làm chất phản ứng (giả sử không thu hồi nhiệt). Theo Hội đồng Năng lượng Thế giới, hiệu quả lý thuyết tôi đa 58% cho động cơ đốt trong [10]. Trong thực tế Một chiếc xe chạy pin nhiên liệu có hiệu suất hơn 45% khi tải trọng thấp và cho giá trị trung bình khoảng 36%, trong khi một chiếc xe chạy diesel là 22%.
Năm 2008, Honda đã cho ra đời chiếc xe điện chạy bằng pin nhiên liệu với hiệu suất 60%, cao hơn hắn so với các nhiên liệu khác. Việc tính tới sự hao hụt do quá trình sản xuất, vận chuyền và lưu trữ nhiên liệu cũng quan trọng. Những chiếc xe pin nhiên liệu chạy bằng hydro nén có thể có hiệu suất (từ nhà máy điện tới bánh xe) đạt 22% nếu hydrogen được lưu giữ dưới áp suất cao và 17% nếu nó được lưu giữ dưới dạng hydro lỏng. Các tế bào nhiên liệu không thể lưu trữ năng lượng như pin, ngoại trừ hydro, nhưng trong một số ứng dụng, chăng hạn như các nhà máy điện độc lập dựa trên các nguồn không liên tục như năng lượng mặt trời hoặc năng lượng gió, chúng được kết hợp với các thiết bị điện phân và lưu trữ để hình thành một hệ thống lưu trữ năng lượng.
Tuy nhiên, phan lớn khí hydro được tạo ra bởi quá trình chuyền đôi khí metan, và do đó hầu hết sản xuất hydro phát ra CO› [22]. Hiệu suất tổng thể (điện chuyền thành hydro và trở lại điện) của các nhà máy như vậy (được gọi là hiệu quả khứ hồi), sử dụng khí hydro tinh khiét va oxy tinh khiết có thể là "từ 35 đến 50%", tùy thuộc vào mật độ khí và các loại điều kiện khác. Mặc dù pin axit chì có thể trở lại khoảng 90%, hệ thống điện phân / pin nhiên liệu có thê lưu trữ lượng hydro rất nhiều và đo đó thích hợp hơn để lưu trữ lâu dài.