CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SỬ DỤNG VÔI THỦY HOÁ LÀM PHỤ GIA CHO BTN Ở TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC Nội dung của chương tập trung phân tích tổng quan về các phá hoại của bêtông nhựa (BTN) dưới tác dụng của nhiệt-ẩm ướt. Từ đó tiến hành nghiên cứu tổng quan về bêtông nhựa dùng phụ gia vôi thủy hóa làm mặt đường bêtông nhựa ở Việt Nam và trên thế giới.1 Nghiên cứu tổng quan về bê tông nhựa và các dạng phá hoại trong bê tông nhựa dưới tác dụng của nhiệt-ẩm ướt a) Tổng quan về bê tông nhựa Bê tông nhựa (BTN) là vật liệu khoáng - bitum xây dựng đường, nhận được khi làm đặc hỗn hợp BTN. Hỗn hợp BTN bao gồm: đá dăm, cát, bột khoáng, bi tum và phụ gia được lựa chọn thành phần hợp lý, phối trộn và gia công thành một hỗn hợp đồng nhất. Hỗn hợp được thiết kế hợp lý và gia nhiệt từ 120 -1600C.
Thành phần của BTN theo khối lượng thông thường như sau: đá dăm: 20-65%; cát: 30- 66%; bột khoáng: 4-14%; bitum: 5-7%; và phụ gia tuỳ theo kết quả thí nghiệm BTN là tốt nhất so với các hỗn hợp vật liệu khoáng - bitum khác ở chỗ nó có độ đặc, cường độ, độ ổn định và độ bền cao do sự tham gia của bột khoáng trong thành phần. Các tính chất của BTN phụ thuộc vào nhiệt độ thi công và nhiệt độ khai thác, tỷ lệ và tính chất của các vật liệu thành phần, phụ thuộc vào sự phân bố chất kết dính trong hỗn hợp và mức độ dính kết giữa cốt liệu và bitum. Mỗi thành phần trong hỗn hợp BTN đóng một vai trò nhất định và có liên quan chặt chẽ đến nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ các tính chất cần thiết của vật liệu làm lớp mặt đường. Sự lựa chọn các thành phần để cấu thành BTN không phải là ngẫu nhiên và tùy tiện.
Mỗi thành phần của hỗn hợp đóng một vai trò nhất định và có liên quan chặt chẽ với nhau trong việc tạo nên một khối liên kết có đủ cường độ, đủ các tính chất cần thiết khác để làm mặt đường. 7 Theo các tài liệu quốc tế thì BTN có thể khai thác ở nhiệt độ từ -500C đến +600C. Các giải pháp để tăng cường độ ổn định nhiệt của BTN cần đặc biệt lưu ý khi sử dụng BTN trong điều kiện khí hậu nhiệt đới. Trong quá trình khai thác BTN chịu ảnh hưởng của các yếu tố nhiệt độ và thời tiết nên nó bị già đi, nứt nẻ, bị mài mòn và biến dạng làm giảm tuổi thọ khai thác của BTN.
Tuổi thọ trung bình của các lớp phủ mặt đường bằng BTN khoảng 10 đến 15 năm. Trong điều kiện thiết kế, thi công, bảo dưỡng và khai thác hợp lý thì tuổi thọ tối đa có thể đạt đến 20 năm. b) Hư hỏng mặt đường bê tông nhựa do ẩm ướt Cơ chế phá hoại của mặt đường bêtông nhựa dưới tác dụng của tải trọng, nhiệt- ẩm ướt được thể hiện như hình vẽ 1.1 Cơ chế hư hỏng mặt đường BTN do hơi ẩm, nước mặt và tải trọng bánh xe Các hư hỏng được đánh giá theo hai trường hợp: Trường hợp thứ nhất, cốt liệu của bêtông nhựa có thể bị ẩm trong quá trình chế tạo, cùng với sự xuất hiện các lỗ rỗng trong lớp BTN do quá trình thi công do lu lèn không đạt độ chặt thiết kế, dưới tác dụng của tải trọng xe làm áp lực lỗ rỗng gia tăng, cộng với sự liên kết của màng bitum với cốt liệu và bột khoáng rất kém do hơi ẩm làm cốt liệu mất hoàn toàn khả năng liên kết với màng bitum, dẫn đến vật liệu BTN bị phân rã (Hình 1. Bên cạnh đó, khi biên độ chênh lệch nhiệt độ ngày đêm quá lớn làm xuất hiện các rạn nứt tế vi bên trong vật liệu BTN do co ngót vì nhiệt.
Khi gặp điều kiện có nước mặt, dưới sự tác động trùng phục của tải trọng dưới bánh xe đi tới, nước bị bánh xe dồn ép vào trong các khe nứt như nêm thuỷ lực làm phát triển, mở rộng các khe nứt. Khi bánh xe đi qua thì gần như ngay lập tức hút nước cùng vật liệu BTN bị phân rã ra khỏi các khe nứt (Hình 1. Dưới tác 8 dụng trùng phục của tải trọng xe, đặc biệt là xe quá tải và nhiệt độ cao càng làm vật liệu bị phân rã mạnh, gây mất mát vật liệu và hình thành các dạng hư hỏng như các ổ gà, tách lớp hay rỗ tổ ong như tổng hợp như hình 1.2 Các dạng hư hỏng BTN: (a)- ổ gà; (b)- tách lớp Trường hợp thứ hai, khi mặt đường BTN hứng chịu những đợt mưa kéo dài bất thường ngoài dự kiến của người thiết kế và thi công, gây ngập lụt, đọng nước, nước xâm nhập vào các vị trí trong các lớp móng, lớp cấp phối và cả các lớp áo đường có chất lượng lu lèn kém, vật liệu không đạt yêu cầu (đất nền yếu, hốc nước, nhiệt độ thảm không đạt, lớp kết dính kém. Dưới tác dụng của tải trọng thiết kế gây đứt gẫy, lún cục bộ hoặc đẩy nổi cục bộ mặt đường BTN như một số dạng hư hỏng như nứt lề đường, gồ sống trâu hay lún cục bộ được tổng hợp như hình 1.3 Các dạng hư hỏng BTN: (a)- gồ sống trâu; (b)- nứt lề đường c) Mất mát vật liệu mặt đường Nhựa đường bị hóa già không đảm bảo khả năng đàn hồi, bong tróc ra khỏi 9 cốt liệu, dưới tác dụng của tải trọng theo thời gian trong điều kiện môi trường nhiệt - ẩm ướt kết cấu áo đường có thể bị như hỏng như hình 1.4 Hư hỏng mặt đường BTN theo thời gian.
Nguyên nhân chính của hiện tượng này là: Hàm lượng nhựa không đủ, Dính bám kém giữa cốt liệu và nhựa đường; Cốt liệu ẩm và không đảm bảo độ sạch; Chất lượng nhựa đường kém, nhựa đường hóa già; Đầm nén không đủ; Thi công vào điều kiện bất lợi. d) Nứt do mỏi Dạng này xảy ra khi các tải trọng tác dụng gây ra ứng suất kéo vượt quá cường độ kéo của bê tông nhựa. Dấu hiệu của dạng hư hỏng này là sự xuất hiện các vết nứt dài không liên tục theo vệt bánh xe, sau đó phát triển dần lên do một số điểm các vết nứt trong cấu trúc trong hỗn hợp nối lại với nhau hình thành vùng nứt lớn hơn. Các vết nứt phát triển cho đến khi hình thành kiểu nứt rạn, rồi tiếp tục phát triển xuất hiện các “ổ gà”.
Hiện tượng nứt mỏi xảy ra thông thường do phối hợp các nguyên nhân: Tải trọng nặng trùng phục nhiều trên mặt đường, lưu lượng xe tải trọng nặng tăng vọt quá mức dự báo của thiết kế. Ngoài ra mặt đường có bề dày nhỏ hay các lớp dưới yếu làm xuất hiện độ võng lớn trên mặt đường khi có tác dụng của tải trọng. Độ võng mặt đường lớn làm tăng ứng suất kéo ở phía đáy của lớp bê tông nhựa làm phát sinh vết nứt. Chất lượng xây dựng kém, đầm nén không đủ, thi công trong thời tiết bất lợi, hàm lượng nhựa thiếu, thoát nước mưa mặt đường kém làm giảm cường độ của nền móng bằng vật liệu không gia cố cũng góp phần làm tăng khả năng phát sinh vết nứt hay chất lượng lớp dính bám kém làm tăng ứng suất kéo dưới đáy bê 10 tông nhựa [1].
Hình ảnh nứt do mỏi vật liệu được thể hiện hình 1.5 Vết nứt mặt đường BTN. e) Hằn lún vệt bánh xe: là dạng hư hỏng do hỗn hợp vật liệu mặt đường di chuyển khi chị tải trọng tác dụng của bánh xe. Mặt đường biến dạng không hồi phục tạo rãnh dọc tuyến tại vị trí bánh xe nặng trùng phục. Hiện tượng này có thể xảy ra do hiện tượng đầm nén thứ cấp của tải trọng giao thông hay hỗn hợp mất ổn định trong trạng thái dẻo – chảy, thông thường do cả hai và phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ môi trường và tải trọng.
Hằn lún vệt bánh xe thể hiện hình 1.6 Hằn lún vệt bánh xe 1.2 Tổng quan về tình hình nghiên cứu sử dụng vôi thủy hóa làm phụ gia cho BTN ở trong nước và ngoài nước: a) Nghiên cứu sử dụng vôi thủy hóa trên thế giới Vôi thủy hóa làm phụ gia cho bê tông asphalt được sử dụng ở các nước trên thế giới, nhiều nghiên cứu đã chứng minh tính hiệu quả của việc sử dụng vôi thủy 11 hóa làm phụ gia để tăng cường tính chất cơ học của bê tông nhựa [17]: Ở Mỹ sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia cho bê tông nhựa từ thập niên 70s, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 1-1.5% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt. Nhằm cải thiện tính ổn định nước của bê tông nhựa. Ở Đan Mạch sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia cho bê tông asphalt từ giữa thập niên 80s, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 1-1.5% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt. Nhằm cải thiện đặc tính ổn định nước cho bê tông nhựa.
Ở Pháp sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia cho bê tông asphalt trước năm 1945, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 1-1.5% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt. Nhằm cải thiện đặc tính cơ học cho bê tông nhựa dưới phá hoại của môi trường ẩm ướt. Ở Bỉ sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia để cải thiện đặc tính ổn định nước cho bê tông nhựa từ những thập niên 80s, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 1.5% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt. Ở Phần Lan sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia cho bê tông asphalt, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 1-2.0% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt.
Nhằm cải thiện đặc tính cơ học cho bê tông nhựa. Ở Ý sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia cho bê tông asphalt từ giữa thập niên 90s, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 1-2.0% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt. Nhằm cải thiện tính ổn định nước cho bê tông nhựa dưới phá hoại của môi trường ẩm ướt. Ở Hà Lan sử dụng vôi thủy hóa dùng làm phụ gia cho bê tông asphalt từ giữa thập niên 90s, với hàm lượng vôi thủy hóa thông thường từ 2.0% của cốt liệu để thay thế một phần bột khoáng trong bê tông asphalt.
Nhằm cải thiện tính ổn định nước và chống lão hóa cho bê tông nhựa.