Chương 1. TỔNG QUAN VỀ CÔNG TRÌNH BẢO VỆ BÃI, GIẢM SÓNG KHU VỰC VEN BIỂN 1. Công trình bảo vệ bãi, giảm sóng khu vực ven biển 1. Trồng rừng phòng hộ Rừng phòng hộ ven biển là một bộ phận cấu thành của công trình đê biển, có tác dụng giảm chiều cao sóng trước đê, tăng khả năng lắng đọng phù sa bảo vệ bãi, bảo vệ môi trường sinh thái.
Đây là giải pháp được áp dụng nhiều trong thực tế do có nhiều ưu điểm như: Thân thiện với môi trường, chi phí đầu tư thấp, dễ thực hiện. Rừng ngập mặn đê biển ở Hải Phòng 1. Biện pháp công trình chống xói, giảm sóng Đối với vùng bãi biển bị xâm thực và tại đó không trồng được cây chắn sóng, giải pháp bảo vệ bãi là xây dựng công trình giảm sóng, chống xói, tạo bãi. Các dạng công trình thường áp dụng là đập mỏ hàn hoặc đập phá/giảm sóng.
Trên thế giới cũng như tại Việt Nam, đây là giải pháp được ứng dụng nhiều trong thực tế. Những nghiên cứu về đập mỏ hàn hay đập phá/giảm sóng là tương đối phong phú, tuy vậy, vẫn có những công trình xây dựng xong nhưng hiệu quả thực tế không được như mong muốn. Đập mỏ hàn tại Nam Định Hình 1. Đập mỏ hàn tại Quảng Bình 6 1.
Nuôi bãi nhân tạo Nuôi bãi nhân tạo là loại công trình dùng phương pháp vận chuyển bùn cát từ nơi khác đến bù vào bờ, bãi biển cần thiết bảo vệ để duy trì, cải thiện sự ổn định của bờ biển hoặc để tạo ra một bãi biển theo ý muốn, khôi phục trạng thái tự nhiên. Đây là giải pháp phòng chống xói lở, ổn định đường bờ mang tính “phi công trình” hay còn gọi là giải pháp công trình “mềm” đã được áp dụng thành công ở nhiều nước có nền khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới. Tại Việt Nam, giải pháp này đã được đưa vào Tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế đê biển [1], dù vậy có rất ít công trình được áp dụng trên thực tế, và chủ yếu là đối với các bãi biển cần tôn tạo, mở rộng phục vụ phát triển du lịch, ví dụ tại bãi biển Mũi Né, Bình Thuận hay tại Đa Phước, Đà Nẵng [15]. Nuôi bãi xa bờ từ tàu nạo vét - bơm thổi cát và nuôi bãi trực tiếp bằng hệ thống đường ống bờ cát tại bờ biển (Nguồn: Internet) Hình 1.
Nuôi bãi kết hợp với đập mỏ hàn L tại Mũi Né, Bình Thuận (Nguồn: Google Earth) 7 1. Các vấn đề khoa học, công nghệ trong xây dựng hệ thống đập mỏ hàn 1. Diễn biến vùng bãi khi có hệ thống đập mỏ hàn Dựa trên các kết quả nghiên cứu và thành tựu xây dựng mỏ hàn biển, có thể rút ra một số mối quan hệ và ứng xử của hệ thống mỏ hàn như sau [21]: - Quy luật diễn biến bồi xói bên trong hệ thống mỏ hàn: Thượng lưu bồi, hạ lưu xói lở (Hình 1. Bồi xói bên trong hệ thống mỏ hàn - Hiện tượng chảy lượn, chảy xoáy, tách xa bờ khu vực giữa 2 mỏ hàn: Tùy theo tác động của hướng sóng và dòng chảy ven bờ mà có thể xuất hiện các hiện tượng: Chảy lượn theo bờ và dọc theo mỏ hàn rồi hướng ra biển - Hình 1.7 (a); chảy xoáy một vòng tròn - Hình 1.7 (b); chảy xoáy hai vòng tròn tạo thành khu nước vật bên cạnh mỏ hàn - Hình 1.
Hiện tượng chảy lượn, chảy xoáy, tách xa bờ khu vực giữa 2 mỏ hàn (c) 8 - Bồi lắng và xói lở giữa các mỏ hàn: Phụ thuộc việc bố trí công trình trong hệ thống đập (Hình 1. Bồi, xói giữa các mỏ hàn khi góc θ=30°÷55° Hình 1. Bồi, xói giữa các mỏ hàn khi góc θ=90° - Tác động tiêu cực do hệ thống mỏ hàn gây ra: Thiếu hụt hàm lượng cát vận chuyển về hạ du, gây ra tình trạng xói lở hạ lưu hệ thống mỏ hàn. Để khắc phục tác động tiêu cực này, khi xây dựng hệ thống đập mỏ hàn, có thể xem xét giải pháp khắc phục bằng cách kết hợp nuôi bãi.
Hệ thống mỏ hàn biển chịu tác động của nhiều yếu tố như sóng, dòng chảy ven bờ, điều kiện kỹ thuật của nền móng, môi trường nước biển. Sự tương tác giữa hệ thống mỏ hàn với vách bờ, bãi biển và các yếu tố nêu trên là rất phức tạp và khó dự đoán hết. Những mối quan hệ và sự ứng xử của hệ thống mỏ hàn với vách bờ, bãi biển trên đây được làm sáng tỏ từ các quan trắc, bằng mô hình vật lý và mô hình toán học. Tuy nhiên, với phạm vi nhỏ của khu vực đặt hệ thống mỏ hàn so với vùng biển rộng lớn và với các tác động ngẫu nhiên, phức tạp của nhiều yếu tố thì các mô hình vật lý và toán học không phải lúc nào cũng có thể diễn đạt điều kiện làm việc, ứng xử và hiệu quả của hệ thống mỏ hàn sát với thực tế.
Phương pháp thiết kế hệ thống đập mỏ hàn Hệ thống đập mỏ hàn thuộc loại công trình bảo vệ bờ. Khi quy hoạch và thiết kế, cần căn cứ vào đặc điểm vùng bờ, mục tiêu bảo vệ, hiện trạng công trình, điều 9 kiện địa hình, địa chất để tiến hành vạch tuyến và bố trí các công trình bảo vệ. Tiếp theo cần tính toán các chỉ tiêu kỹ thuật, kinh tế và thông qua so sánh để lựa chọn phương án tối ưu. - Về tuyến công trình: Tính toán, xác định đường bao ngoài cho hệ thống mỏ hàn và nối tiếp với đường bờ về cả hai phía để tạo thành đường trơn thuận.
- Các hình thức mặt cắt ngang: Có thể sử dụng các dạng hình thức mặt cắt ngang: + Dạng tường đứng: Loại trọng lực, loại cọc; + Công trình dạng mái nghiêng: Có nhiều kiểu kết cấu, phụ thuộc vào: Cách hình thành lõi đê (đá đổ có hoặc không phân loại, chồng chất các khối bê tông.); cách phủ mái chắn sóng; cách thức lớp đệm; xử lý đỉnh đê. + Công trình dạng hỗn hợp: Bao gồm phần tường đứng (tường trọng lực) đặt trên bệ đê mái nghiêng có chiều cao chiếm quá nửa tổng chiều cao đê. + Công trình có kết cấu dạng đặc biệt: Cọc ván thép, cọc ống, phao hoặc xà lan đánh chìm v. Khi lựa chọn hình thức kết cấu đập mỏ hàn cần xét đến điều kiện tự nhiên (địa hình, địa chất, thủy văn), nhiệm vụ công trình, điều kiện thi công, khả năng cung cấp vật liệu, kinh phí đầu tư.
Có thể lựa chọn một loại hình kết cấu cho toàn tuyến, cũng có thể sử dụng các loại hình kết cấu khác nhau cho các đoạn khác nhau, phù hợp với điều kiện địa hình, địa chất từng đoạn. - Các nội dung tính toán: Tùy thuộc vào loại hình thức kết cấu có các nội dung tính toán phù hợp: + Với đê tường đứng dạng trọng lực: Cần tính ổn định chống lật (quanh trục ở đáy tường và ở các khe nằm ngang, khe răng), ổn định chống trượt theo đáy tường và theo các khe nằm ngang trong đê khối xếp, ổn định chống trượt theo đáy bệ đê, sức chịu tải của bệ đê, sức chịu tải của đất nền, tính lún của đê; + Với đê tường đứng bằng cọc cừ: Có các bài toán về ổn định tổng thể của đê nhờ sức giữ của các cọc cừ (xác định chiều sâu đóng cọc), bài toán về độ bền của cọc cừ và các cấu kiện khác; 10 + Với đập mỏ hàn dạng mái nghiêng: Có các bài toán về tính trọng lượng ổn định của khối phủ mái nghiêng, tính ổn định công trình mái nghiêng (đối với khối tường đỉnh, ổn định của đê và nền). Tại Việt Nam, hiện nay công tác thiết kế hệ thống đập mỏ hàn ở đê biển đang áp dụng “Tiêu chuẩn kỹ thuật thiết kế đê biển” ban hành theo Quyết định số 1613/QĐ-BNN-KHCN ngày 9/7/2012 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Trong tiêu chuẩn này, việc xác định kích thước kết cấu bảo vệ mái đập, kích thước và trọng lượng khối phủ mái đập được hướng dẫn khá chi tiết.
Nội dung bố trí hệ thống (về tuyến, phương đặt trục dọc, chiều cao, khoảng cách giữa các đập), tiêu chuẩn cũng đưa ra những chỉ dẫn mang tính định hướng và quy định: Trường hợp dự án có quy mô lớn, phải tiến hành thử nghiệm, tổ chức quan trắc để điều chỉnh thiết kế cho phù hợp. Các kết quả nghiên cứu về đập mỏ hàn ở Việt Nam và trên thế giới 1. Các nghiên cứu về kết cấu dòng chảy khu vực mỏ hàn Kết cấu dòng chảy khu vực mỏ hàn trong công tác chỉnh trị sông được nghiên cứu sớm bởi nhiều nhà khoa học trên thế giới. Kết quả của những nghiên cứu này được trình bày trong các sách giáo khoa về công trình chỉnh trị.
Đối với mỏ hàn trong dòng sông, nguyên tắc làm việc của đập phụ thuộc vào trạng thái làm việc của nó [3]: Hình 1. Dòng chảy khu Hình 1. Dòng chảy khu vực mỏ hàn ngập vực mỏ hàn không ngập (a – Mặt cắt dọc; b-Mặt bằng) 11 - Khi chưa ngập, tác dụng chủ yếu của đập mỏ hàn là thu hẹp dòng chảy, đẩy chủ lưu ra xa bờ nhờ sự phân bố lại lưu tốc trên thủy trực và trên chiều rộng mặt nước ở mặt cắt công trình (Hình 1.10); - Khi ngập, tác dụng chủ yếu của mỏ hàn là hướng dẫn chuyển động của bùn cát nhờ tác dụng của dòng xoắn trục ngang hình thành sau công trình (Hình 1. Hiện nay, chưa có những phát hiện gì mới về bản chất hiện tượng.
Các nghiên cứu về diễn biến lòng sông khu vực mỏ hàn Hố xói đầu đập mỏ hàn sử dụng trong công tác chỉnh trị sông được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới. Matveep sau khi xem xét toàn diện các nhân tố ảnh hưởng đến chiều sâu hố xói đầu đập mỏ hàn bao gồm: Lưu tốc, chiều dài đập, độ dốc, góc kẹp giữa hướng nước chảy và trục đập, sự hình thành lòng sông v. đã đề ra công thức tính toán cho đập không ngập theo công thức 1.1) 2 g Trong đó: ∆h - Chiều sâu hố xói đầu mỏ hàn (m); U - Lưu tốc tiến gần mỏ hàn (m/s); k 1 - Hệ số có quan hệ đến chiều dài l của mỏ hàn chiếu lên đường thẳng góc với phương của dòng chảy.2) k 2 - Hệ số có quan hệ đến hệ số mái dốc m đầu mỏ.3) α α - Góc giữa trục mỏ hàn và phương dòng chảy, khi α>90°, lấy tg = 1; 2 g - Gia tốc trọng trường (m/s2); d - Đường kính hạt cát lòng sông (m). 12 Trường hợp bờ xói lở ít, chiều rộng sông ổn định, Antunin đề nghị dùng công thức 1.