Chương 1 TỔNG QUAN 1.1 Tính cấp thiết của đề tài Hiệu ứng nhà kính tăng cao, tầng ozon bị ảnh hưởng nặng nề là một trong những vấn đề cấp thiết được quan tâm hàng đầu trên toàn thế giới. Nguyên nhân dẫn đến hiện trạng này là do ô nhiễm môi trường, khí thải công nghiệp, chất thải sinh hoạt. Và trong số đó không thể không nhắc đến khí thải từ các chất làm lạnh của hệ thống điều hòa không khí dân dụng cũng như hệ thống lạnh công nghiệp. Trong thực tế R32 và R290 ít được sử dụng rộng rãi do tính dễ cháy của nó, còn CO2 có rất nhiều trong tự nhiên, trong hệ thống lạnh nén một giai đoạn CO 2 có COP thấp nhất so với các chất làm lạnh truyền thống như R22.
Nhưng CO2 cho thấy ưu điểm vượt trội trong các hệ thống lạnh ghép tầng. Những năm gần đây trên thế giới có rất nhiều nghiên cứu về hệ thống lạnh ghép tầng cũng như CO2 điều này phần nào cho thấy tầm quan trọng của CO2 trong ngành lạnh của thế giới. Bộ trao đổi nhiệt là một thiết bị cực kỳ quan trọng trong các hệ thống lạnh nó được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như động cơ xăng, diesel, hệ thống sản xuất điện, hệ thống lạnh,. Với sự phát triển cuả khoa học, kỹ thuật các bộ trao đổi nhiệt với các kênh micro đã được chế tạo để dần dần thay thế các bộ trao đổi nhiệt truyền thống với kích thước lớn chiếm khá nhiều không gian lắp đặt, hiệu quả trao đổi nhiệt kém.
Với ưu điểm thiết kế nhỏ gọn, giảm tổn thất áp suất vừa chiếm ưu thế về tỷ lệ cũng như hiệu quả truyền nhiệt làm cho nó ngày càng trở nên được ưa chuộng và phổ biến. Tuy nhiên, ứng dụng của nó trong hệ thống lạnh ghép tầng là chưa nhiều. Do đó việc nghiên cứu hệ thống lạnh ghép tầng sử dụng của bộ trao đổi nhiệt tấm micro ở nước ta sẽ là một nổ lực đáng ghi nhận đóng góp không chỉ cho ngành lạnh ở Việt Nam mà còn tạo ra cơ sở, điều kiện, động lực để tiếp tục phát triển những hệ thống lạnh ghép tầng mới, hiểu quả cao hơn cho trên thế giới. Vì vậy việc cần làm lúc này là đẩy mạnh nghiên cứu, thiết kế để tạo ra một hệ thống lạnh ghép tầng hiệu quả cao để đáp ứng nhu cầu trong công nghiệp nước nhà đồng thời rút ngắn khoảng cách tri thức so với thế giới.
Và việc chọn đề tài là tính toán, thiết kế, lắp đặt một hệ thống điều hòa không khí ghép tầng sử dụng cặp môi chất CO2/R134a với bộ trao đổi nhiệt ghép tầng tấm micro (Micro plate heat exchanger) giúp ta có thể hiểu thêm về khí HFCs, ứng dụng môi chất CO2 và đặc điểm truyền nhiệt của bộ trao đổi nhiệt ghép tầng này dùng trong ngành lạnh.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 1.1 Các nghiên cứu về CO2 và hệ thống lạnh ghép tầng Trong những năm gần đây thì ứng dụng của CO2 xuất hiện ngày càng nhiều trong các hệ thống lạnh đặc biệt là hệ thống lạnh ghép tầng. Dưới đây là một số nghiên cứu liên quan đã được công bố rộng rãi trên thế giới. Zhang cùng cộng sự [1] đã tiến hành đánh giá lý thuyết hiệu quả bộ trao đổi nhiệt bên trong trong chu trình làm lạnh CO2 trên tới hạn có sử dụng ejector. Kết quả cho thấy tỷ lệ hút và hiệu suất của ejector tăng, áp suất phục hồi giảm dưới cùng 1 điều kiện áp suất khí làm mát.
Manjili cùng cộng sự [2] đã sử dụng phần mềm Engineering Equation Slover (EES) để phân tích nhiệt động lực học và exergetic của chu trình làm lạnh CO2 trên tới hạn 2 cấp dùng 2 ejector, quá trình nén hơi được thực hiện trong 2 giai đoạn mỗi đường nén hơi gồm ejector riêng biệt. Kết quả cho thấy COP được cải thiện từ 20% - 80% so với chu trình thông thường. Liu cùng cộng sự [3] đã phân tích nhiệt động lực học của chu trình làm lạnh CO2 trên tới hạn tích hợp bộ quá lạnh nhiệt điện và ejector để so sánh với 2 chu trình CO2 trên tới hạn độc lập: (1) với bộ quá lạnh nhiệt điện và (2) với ejector. Kết quả chỉ ra hiệu suất của chu trình tích hợp tăng 39,34% tương ứng với áp suất xả giảm 8,01% dưới điều kiện hoạt động nhiệt độ bay hơi 5oC và nhiệt độ làm mát bên ngoài là 40oC.
Nakagawa cùng cộng sự [4] đã phân tích thực nghiệm ảnh hưởng của bộ trao đổi nhiệt trong của chu trình làm lạnh CO2 trên tới hạn 2 cấp có ejector và so sánh 2 nó với hệ thống làm lạnh thông thường. Thực nghiệm được thực hiện ở áp suất và nhiệt độ hoạt động khác nhau cho 3 trường hợp: không có bộ trao đổi nhiệt bên trong, bộ trao đổi nhiệt bên trong 30 cm, bộ trao đổi nhiệt bên trong 60 cm. Kết quả cho thấy hệ thống có ejector và bộ trao đổi nhiệt bên trong 60 cm có COP lớn nhất tăng đến 27% so với hệ thống thông thường. Nebot - Andres cùng cộng sự [5] đã dùng thực nghiệm để xác định điều kiện làm việc tối ưu của hệ thống lạnh CO2 trên tới hạn tích hợp cơ chế quá lạnh.
Hệ thống thử nghiệm ở các điều kiện áp suất và quá lạnh khác nhau để thu được COP tối ưu trong điều kiện nhiệt độ môi trường 25 oC, 30,4 oC, 35,1 oC và mức độ bay hơi từ -15,6 oC đến -4,1 oC. COP và công suất lạnh tối ưu được thể hiện trong Bảng 1.1: COP và công suất lạnh tối ưu [5] Nhiệt độ glycol, oC COP tối ưu Công suất lạnh tối ưu, kW -1,3 1,4 đến 1,87 6,5 đến 7,7 3,8 1,56 đến 2,13 7,3 đến 8,9 10 1,81 đến 2,48 8,6 đến 10,3 Goodarzi cùng cộng sự [6] đã phân tích hiệu suất của chu trình làm lạnh CO2 trên tới hạn 2 cấp hiệu chỉnh với bộ trao đổi nhiệt bên trong, bộ làm mát trung gian, ejector và bộ tách. Chu trình ban đầu được hiệu chỉnh với việc trích xuất đường hơi bão hòa từ bộ tách đến bộ làm mát trung gian. Kết quả cho thấy chu trình hiệu chỉnh cải thiện COP lên đến 26,89% so với chu trình ban đầu ở cùng điều kiện hoạt động.
Trong khi đó tỷ lệ phá hủy exergy giảm trung bình 18,6% so với chu trình ban đầu. Chen cùng cộng sự [7] đã khảo sát thực nghiệm hệ thống làm lạnh CO2 trên tới hạn với roto kép và máy nén làm mát trung gian cho ôtô. Kết quả cho thấy hiệu suất của hệ thống gần tương đương với hiệu suất của chu trình cơ bản ở điều kiện nhiệt độ môi trường xung quanh là 35 °C, trong khi đó nó có tính ưu việt vượt trội 3 trong điều kiện 45 °C, với mức tăng 19,8% công suất làm lạnh tối đa và tăng 12,8% COP tương ứng. Amaris cùng cộng sự [8] và Tsamos cùng cộng sự [9] đã cùng nghiên cứu so sánh cho ba hệ thống: tăng áp R744 (1), tăng áp R744 với máy nén song song (2) và CRS R717/R744 (3) cho những ứng dụng bán lẻ thực phẩm.
Trong khi nhóm của Amaris điều tra về hiệu suất dựa trên định luật nhiệt động 1 và 2 thì nhóm của Tsamos phân tích hiệu suất năng lượng ở những điều kiện khí hậu khác nhau. Kết quả của 2 nhóm nghiên cứu được thể hiện qua Bảng 1.2: Kết quả của 2 nhóm nghiên cứu Amaris [8] và Tsamos [9] Amaris [8] Tsamos [9] Siêu thị trung Cửa hàng Siêu thị trung Cửa hàng tiện lợi bình tiện lợi bình (145 kW) (30 kW) (145 kW) (30 kW) Hệ Phạm vi thống Phạm vi COP London Cyrpus London Cyrpus COP tốt nhất (MWh) (MWh) (MWh) (MWh) tốt nhất TAmb ≤ 2 oC TAmb ≤ 26 (1) 565 696 130 157 đối với (3) o C TAmb ≤ 14 oC TAmb ≤ 26 (2) 477 620 121 142 đối với (3) o C TAmb > 2 oC và > 14 oC đối TAmb >26 162 520 565 154 (3) với (1) và (2) o C tương ứng Yang cùng cộng sự [10] đã đề xuất một CRS LiBr/H2O hấp thụ/CO2 trên tới hạn để thu hồi nhiệt thải cấp thấp 90-150oC theo hiệu quả công suất (FCP) và theo lưới điện sản xuất (FNG), sơ đồ hệ thống được thể hiện trong Hình 1. Một loạt các quá trình dựa vào nhiệt độ làm lạnh (2oC, 3oC, 4oC, 5oC, 7oC, 10oC) được thiết 4 kế theo hai chiến lược tối ưu đó. Hiệu suất của thiết kế được so sánh dựa trên kết quả mô phỏng bằng Aspen Plus.
Kết quả cho thấy hệ thống được đề xuất có hiệu suất tốt ở nhiệt độ làm lạnh thấp. Áp suất cao theo FCP lớn hơn FNG. Đầu tư và lợi nhuận của thiết kế tối ưu theo FCP nhiều hơn so với FNG.1: CRS hấp thụ/CO2 trên tới hạn [10] Sanz – Kock [11] cùng cộng sự tiến hành thực nghiệm đánh giá CRS R134a/CO2 được thiết kế cho TEvap thấp trong các ứng dụng lạnh thương mại. Đánh giá thử nghiệm (45 trạng thái ổn định) bao gồm TEvap từ -40 đến -30 oC và TCond từ 30 đến 50 oC.
Kết quả cho thấy ΔtCHX thay đổi từ 3,3 đến 5,3 oC, sự thay đổi cấp độ trung gian tạo ra các biến thể COP tối đa là 6%, công suất lạnh trong phạm vi từ 4,5 kW (TEvap là -40 oC và TCond là 40oC) đến 7,5 kW (TEvap là -30 oC và TCond là 30oC), COP trong phạm vi từ 1,05 (TEvap -40 oC và TCond là 40oC) đến 1,65 (TEvap là -30 oC và TCond là 30oC). Aminyavari cùng cộng sự [12] đã phân tích exergetic, kinh tế, môi trường và tối ưu hóa đa mục tiêu CRS CO2/NH3 bằng cách sử dụng phương pháp genetic 5 algorithm để đạt được các thông số thiết kế tối ưu (hiệu quả exergetic và tổng tỉ lệ chi phí) sau đó dùng phương pháp ra quyết định TOPSIS. Kết quả tối ưu hóa đã chứng minh khi so sánh với một hệ thống 50 kW thì thiết kế đã chọn cho hiệu quả exergetic là 45,89% trong khi tổng tỉ lệ chi phí là 0,01099 US$/s, dẫn tới tổng chi phí hằng năm là 277,070 US$. Patel cùng cộng sự [13] đã phân tích hiểu quả tối ưu hóa và so sánh CRS sử dụng cặp môi chất NH3/CO2 và C3H8/CO2.
Vấn đề tối ưu hóa được xây dựng dựa trên tổng chi phí hằng năm và sự phá hủy exergy là nhỏ nhất bằng cách sử dụng thuật toán tiềm kiếm truyền nhiệt. Bốn tham số chính là: TEvap, TCond, nhiệt độ nén ở LTC và ΔtCHX được chọn làm biến quyết định, sau đó dùng phương pháp ra quyết định TOPSIS. So sánh kết quả cho thấy cặp C3H8/CO2 cung cấp chi phí thấp hơn 5,33% và phá hủy exergy cao hơn 6,42% so với cặp NH3/CO2.