Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan kết quả nghiên cứu liên quan 1. Khái quát nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới và ở nước ta 1.1 Nhu cầu sử dụng năng lượng trên thế giới Các nguồn năng lượng sơ cấp như năng lượng hóa thạch của thế giới ngày càng cạn kiệt. Toàn thế giới đang phải đối mặt nghiêm trọng với vấn đề tiết kiệm năng lượng sơ cấp.
Dân số thế giới càng tăng, kinh tế thế giới càng phát triển thì tiêu thụ năng lượng càng nhiều. Có 3 nguồn năng lượng chủ yếu là năng lượng hóa thạch, năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo, trong đó năng lượng hóa thạch chiếm đến 78,4 % và năng lượng hạt nhân chiếm 2,6 % ( 2013 ). Nhiên liệu hóa thạch được coi là năng lượng sơ cấp.Trước đây năng lượng sơ cấp được tính theo tấn than đá tương đương, ký hiệu là tce (ton of coal equivalent, 1tce = 8,14 MWh lấy tròn là 8 MWh, giá trị này bắt nguồn từ nhiệt trị của 1 kg than đá bằng 7000 kcal/kg), nhưng ngày nay được tính theo tấn dầu tương đương ký hiệu là toe ( ton of oil equivalent, 1 toe = 41,868 GJ = 11,63 MWh lấy tròn là 12 MWh, giá trị này bắt nguồn từ nhiệt trị của 1 kg dầu bằng 10000 kcal/kg. Biểu đồ tiêu thụ năng lượng thống kê vào năm 2013 [1] HVTH: NGUYỄN VĂN THÁI -1- LUẬN VĂN THẠC SĨ Luan van GVHD: TS.
LÊ MINH NHỰT Trong tương lai gần, toàn thế giới sẽ phải nỗ lực đi tìm kiếm những nguồn năng lượng mới và năng lượng tái tạo để bù đắp cho sự thiếu hụt của năng lượng sơ cấp hóa thạch đang cạn kiệt. Vào đầu thế kỷ thứ 21 thế giới đang đứng trước nhiều vấn đề cần phải đối mặt. Trong đó, vấn đề được xem là nóng bỏng nhất chính là sự khủng hoảng về năng lượng. Theo dự báo của Cơ quan thông tin về năng lượng (EIA) vào năm 2004, trong vòng 24 năm kể từ năm 2001 đến năm 2025, mức tiêu thụ năng lượng trên toàn thế giới có thể tăng thêm 54 % (ước tính khoảng 404 nghìn triệu triệu Btu năm 2001 tới 623 nghìn triệu triệu Btu vào năm 2025) mà nhu cầu chủ yếu sẽ rơi vào các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ, ví dụ như Trung Quốc hay Ấn Độ ở châu Á.
Mức tiêu thụ năng lượng Hình 1. Tiêu thụ năng lượng phân theo của thế giới từ 1970 đến 2025 (đơn vị khu vực (đơn vị nghìn triệu Btu) [2] nghìn triệu Btu) [2] Dân số tăng nhanh và tốc độ đô thị hóa chóng mặt trên toàn cầu cũng là một yếu tố ảnh hưởng mạnh đến nhu cầu về năng lượng. Dân số thế giới đã tăng từ khoảng 5,5 tỷ người trong năm 1993 lên tới gần 7,3 tỷ người vào năm 2015. Về vấn đề này, có 3 điểm chúng ta cần lưu ý.
Một là, nhu cầu về năng lượng của thế giới tiếp tục tăng lên đều đặn trong hơn hai thập kỷ qua. Thứ hai là, nguồn năng lượng hóa thạch vẫn HVTH: NGUYỄN VĂN THÁI -2- LUẬN VĂN THẠC SĨ Luan van GVHD: TS. LÊ MINH NHỰT chiếm 90 % tổng nhu cầu về năng lượng cho đến năm 2015. Thứ ba là, nhu cầu đòi hỏi về năng lượng của từng khu vực trên thế giới cũng không giống nhau.
Nhu cầu sử dụng năng lượng của các quốc gia ngày càng tăng mạnh kèm theo vấn đề ô nhiễm môi trường gây nên tình trạng biến đổi khí hậu. Đây là vấn đề mà cả thế giới đang rất quan tâm. Do đó việc tìm kiếm nguồn năng lượng thay thế cho nguồn năng lượng hóa thạch làm vấn đề hết sức cấp bách. Lượng khí thải CO2 sinh ra Hình 1.
Biểu đồ tiêu thu năng lượng thế do sử dụng năng lượng hóa thạch [2] giới của các nguồn năng lượng (%) [2] 1.2 Nhu cầu sử dụng năng lượng tại Việt Nam Theo một báo cáo của Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương), vào tháng 8 năm nay, nguồn năng lượng của Việt Nam hiện đang cạn kiệt dần. Than chỉ còn 3,88 tỷ tấn; dầu còn 2,3 tỷ tấn… Ước tính, nguồn năng lượng tự nhiên hiện nay của chúng ta sẽ cạn kiệt trong thời gian tới, trong đó dự báo nguồn dầu mỏ thương mại trên thế giới còn dùng khoảng 60 năm, khí tự nhiên 80 năm, than 150 – 200 năm. Việt Nam cũng là một quốc gia số dân khoảng 86.000 người - thứ 13 trên thế giới (có hai thành phố là TP Hồ Chí Minh và Hà Nội có dân số trên 5.000 dân), nên nhu cầu về năng lượng rất lớn. Số liệu do CIA World Factbook cung cấp cho thấy năm 2008, lượng điện năng tiêu thụ tại Việt Nam đứng thứ 25 trên thế giới (76,269TWh), lượng năng lượng sơ cấp được sử dụng tại Việt Nam là 1,699.1015 BTU HVTH: NGUYỄN VĂN THÁI -3- LUẬN VĂN THẠC SĨ Luan van GVHD: TS.
LÊ MINH NHỰT (tương đương 447,3TWh). Theo dự báo của Viện Khoa học năng lượng Việt Nam, từ năm 2010 đến 2030, trong giai đoạn 5 năm, nhu cầu năng lượng từ 27 % đến 40 %, trong đó, nhu cầu năng lượng sơ cấp để sản xuất điện tăng từ 37 % đến 55 %. Dự báo cũng cho thấy, để đáp ứng được các nhu cầu trên, đến năm 2020 Việt Nam sẽ trở thành quốc gia nhập khẩu năng lượng. Tại Việt Nam, các nguồn năng lượng tự nhiên này có thể còn hết trước thế giới một vài chục năm.
Trong bối cảnh đó, các chuyên gia kinh tế năng lượng đã dự báo đến trước năm 2020, Việt Nam sẽ phải nhập khoảng 12 % – 20 % năng lượng, đến năm 2050 lên đến 50 % – 60 %, chưa kể điện hạt nhân. Tình hình năng lượng hiện nay của chúng ta, trong lĩnh vực điện năng chủ yếu dựa vào nhiệt điện và thủy điện. Thủy điện tuy có tiềm năng phát triển nhưng lại phụ thuộc vào thời tiết, nếu phát triển quá lớn chưa thể lường trước những biến đổi về dòng chảy tác động tiêu cực đến môi trường sinh thái. Điện hạt nhân còn đang trong quá trình chuẩn bị phương án.Về xăng dầu, hiện nay chúng ta vẫn phải nhập khẩu, dự tính khi nhà máy lọc dầu Dung Quất đưa vào sử dụng năm 2009 – 2010, mới chỉ cung cấp được khoảng trên 5 triệu tấn xăng dầu cho giao thông vận tải trong tổng số nhu cầu 15 – 17 triệu tấn, vẫn phải nhập trên 10 triệu tấn.
Mặc dù chúng ta là nước đang phát triển nhưng cũng không nằm ngoài xu hướng chung của thế giới. Ước tính nhu cầu năng lượng trung bình đến năm 2020 là 53,6 triệu TOE, riêng nhu cầu điện là 168 tỷ kWh. Lịch sử phát triển và các ứng dụng của bơm nhiệt 1. Lịch sử phát triển của bơm nhiệt Năm 1834, Perkin đăng ký bằng phát minh đầu tiên về máy lạnh, tới năm 1852, William Thomson (còn gọi là Lord Kenvin) đăng ký bằng phát minh đầu tiên về bơm nhiệt trên thế giới.
Perkin và thomson đều là người Anh. Mục đích sử dụng của bơm nhiệt này là để sưởi ấm phòng vào mùa đông. Chu trình làm việc của bơm nhiệt cũng giống như máy lạnh, đó là chu trình nhiệt động ngược chiều. Khác nhau giữa tên gọi máy lạnh và bơm nhiệt chỉ là mục đích sử dụng.
Ở máy lạnh, người ta sử dụng nguồn HVTH: NGUYỄN VĂN THÁI -4- LUẬN VĂN THẠC SĨ Luan van GVHD: TS. LÊ MINH NHỰT lạnh ở dàn bay hơi, còn bơm nhiệt sử dụng nguồn nhiệt sinh ra ở dàn ngưng để sưởi ấm hoặc đun nóng nước chẳng hạn. Thomson xây dựng thiết bị thử nghiệm với nguồn lạnh và nguồn nóng đều là nước.Theo tính toán lý thuyết, độ chênh nhiệt độ giữa hai nguồn chỉ cần 10 K, ví dụ, nguồn lạnh là 17 oC (290 K) và nguồn nóng là 27 oC (300 K), độ chênh nhiệt độ giữa hai nguồn nóng và nguồn lạnh 300 – 290 = 10 K, thì hệ số bơm nhiệt theo chu trình Canot sẽ là: Tk 300 30 kW nhiệt/kW điện (1) Tk To 10 Điều đó có nghĩa là chỉ cần tiêu tốn 1 kW điện cho máy nén, ta thu được 30 kW nhiệt dùng để sưởi ấm. Rõ ràng ý nghĩa kinh tế của nó là to lớn.
Máy nén nén môi chất lạnh lên áp suất cao, đẩy vào ống xoắn trao đổi nhiệt đặt trong thùng nước nóng của nguồn nóng, sau đó tiết lưu xuống áp suất thấp để đưa vào dàn lạnh đặt trong bồn nước lạnh của nguồn lạnh. Đó là chu trình lạnh đơn giản và quen thuộc và có lẻ không có lý do gì để thất bại nếu như dùng các ga lạnh hiện đại. Thế nhưng, Thomson lại chọn chu trình bơm nhiệt nén khí với môi chất lạnh là không khí để nghiên cứu. Đó chính là lý do thất bại của Thomson, vì không khí có hệ số tỏa nhiệt rất nhỏ, chỉ bằng khoảng 1 % so với hệ số tỏa nhiệt khi sôi và khi ngưng của các ga lạnh hiện đại, hơn nữa hiệu quả lạnh khi tiết lưu của không khí cũng rất thấp.
Sau nhiều lần vật lộn với thí nghiệm ông đã chịu bó tay và sáng chế của ông đã bị quên lãng quên gần một thế kỷ. Ngay cả khi kỹ thuật lạnh đã đạt được những phát triển huy hoàng với các môi chất lạnh như CO2, SO2, và NH3 mà bơm nhiệt vẫn không hề được nhắc lại. Mãi đến năm 1928, một người Mỹ là T. Haldane mới quay lại nghiên cứu bơm nhiệt và đã chế tạo bơm nhiệt đầu tiên để sưởi ấm cho chính văn phòng của ông.
Haldane là người cổ vũ nhiệt tình cho bơm nhiệt nhưng đáng tiếc là ông cũng không xây dựng được thêm hệ thống bơm nhiệt nào. Lý do cơ bản có lẻ là: - Giá tiền đầu tư cho một bơm nhiệt còn khá cao, trong khi giá than, ga, dầu, củi…và có thể điện còn rẻ hơn nhiều so với bơm nhiệt. HVTH: NGUYỄN VĂN THÁI -5- LUẬN VĂN THẠC SĨ Luan van GVHD: TS. LÊ MINH NHỰT - Mặt khác cũng có thể là do nhiệt độ ngoài trời xuống quá thấp trong những mùa đông khắc nghiệt làm cho hiệu quả bơm nhiệt giảm, nhiệt dàn ngưng thiết kế không đủ sưởi ấm phòng… - Những bơm nhiệt hoạt động có hiệu quả là những bơm nhiệt nén hơi.
Chúng đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật và hoạt động qua nhiều năm với hiệu quả nhiệt cao. Một bơm nhiệt tiêu biểu đầu tiên có thể kể đến là bơm nhiệt sưởi ấm cho văn phòng công ty Southern California Edison Co. Bơm nhiệt được xây dựng vào năm 1930, năng suất nhiệt 1050 kW và hệ số bơm nhiệt đạt 2,5.