Chương 1 TỔNG QUAN 1. Tổng quan về hiện tượng biến dạng nứt vỡ trong bê-tông xi-măng và hệ quả của nó đến tính bền môi trường 1. Nội ứng suất xuất hiện trong vật liệu bê-tông và sự hình thành vết nứt Khi chịu ngoại lực tác dụng, vật liệu bê-tông biểu hiện là vật liệu tương đối giòn và không có vùng ứng xử đàn hồi tuyến tính trên đường cong ứng suất-biến dạng với gradient giảm liên tục cho đến khi nó bị phá hủy hoàn toàn (Hình 1. Do đó khi thí nghiệm theo chu trình gia tải-xả tải, trạng thái chịu tải và trạng thái xả tải không tuân theo cùng một đường cong ứng suất-biến dạng mà tồn tại biến dạng không hồi phục hay vật liệu bê-tông bị phá hoại một phần.1 Biểu đồ đường quan hệ ứng suất-biến dạng của vật liệu bê-tông [1] Tuy nhiên, trong trường hợp tác dụng tải trọng có kiểm soát tốc độ biến dạng của mẫu đo, đường cong ứng suất-biến dạng cho thấy quá trình ứng suất giảm nhanh sau khi ứng suất đạt cực đại (Hình 1.
Các vết nứt bề mặt xuất hiện ngay khi ứng suất đạt đỉnh cực đại. Tuy vậy, mẫu vật liệu bê-tông vẫn còn có thể chịu thêm tải đáng kể trước khi phá hủy theo kiểu sụp đổ hoàn toàn. Rõ ràng với thí nghiệm này chứng tỏ sau giai đoạn đàn hồi là giai đoạn bê-tông thể hiện tính dẻo, ứng xử này gọi là đàn dẻo của vật liệu bê-tông. Như vậy, rõ ràng thực tế các nứt vỡ xuất hiện và phát triển khi nội ứng suất vượt quá giới hạn Thực hiện: Nguyễn Ngọc Trí Huỳnh Luận văn cao học Trang 2 Bê tông tự liền vết nứt ứng dụng cơ chế hoạt tính sinh học vi khuẩn chịu lực là quá trình diễn ra từ từ và liên tục dưới tải trọng tác dụng.
Thành phần và phân bố các nứt vỡ phát triển này cũng là một bộ phận trong biểu hiện chung ứng xử cơ học của bê-tông và cấu kiện. Ngoài ra, khi chưa chịu tác dụng của ngoại lực, vật liệu bê-tông bản thân nó đã có thể xuất hiện các nội ứng suất dưới tải trọng bản thân hay quá trình chuyển trạng thái bê-tông tươi có tính công tác, độ nhớt thành bê-tông đóng rắn mất hoàn toàn tính công tác. Ở các quá trình này, nội ứng suất hình thành và dẫn đến các vết nứt phá hoại tế vi. Khi làm việc, các quá trình phát triển cường độ và tiếp nhận tải trọng tiếp tục gây ra các nội ứng suất.
Cấu kiện và vi cấu trúc vật liệu bê-tông sẽ bị phá hủy khi các nội ứng suất này vượt qua giới hạn bền cho phép của toàn bộ khối vật liệu hay liên kết giữa các thành phần. Quá trình biến dạng và nứt vỡ trong bê-tông xi-măng theo thời gian Nhìn chung, trạng thái nứt vỡ hay phá hoại sụp đổ của vật liệu bê-tông là hệ quả của quá trình biến dạng vượt qua giá trị giới hạn, làm phát sinh nội ứng suất vượt quá giới hạn chịu lực vốn có. Trạng thái sớm ngày (chưa chịu tải) Trạng thái sớm ngày đối với vật liệu xi-măng bê-tông được qui ước là chưa chịu tác dụng của tải trọng từ bên ngoài. Như vậy, trong thời gian sớm ngày trước khi khối vật liệu bắt đầu chịu tải trọng bên ngoài thì các quá trình biến dạng và nứt vỡ cũng có thể xuất hiện và phát triển.
Các vết nứt này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau không thể bỏ qua do liên quan trực tiếp đến quá trình phản ứng thủy hóa đóng rắn của vữa xi-măng, hình thành khung vi cấu trúc. Cụ thể đó là các biến dạng co nứt do phản ứng hóa học, co nứt do chênh lệch nhiệt độ, co nứt khô do bay hơi nước và co nứt do từ biến. Khi gặp nước, xi-măng xảy ra các phản ứng thủy hóa từ bề mặt hạt xi-măng vào trong. Tùy thuộc thành phần khoáng cũng như độ mịn của hạt xi-măng, quá trình thủy hóa có thể tạo ra một nhiệt lượng tương đối lớn và phân bố không đồng đều trong toàn khối vật liệu.
Sự chênh lệch nhiệt độ trong khối bê-tông có nguyên nhân là tập hợp các quá trình thủy hóa tỏa nhiệt các khoáng xi-măng có thể làm nhiệt độ trong khối bê-tông lên đến 50- 60oC, tùy thuộc vào kích thước hình học. Điều này gây ra sự chênh lệch nhiệt độ hay khác Thực hiện: Nguyễn Ngọc Trí Huỳnh Luận văn cao học Trang 3 Bê tông tự liền vết nứt ứng dụng cơ chế hoạt tính sinh học vi khuẩn nhau về biến dạng ở các điểm với nhau cũng như với môi trường ngoài không khí. Khi các nội ứng suất này đạt và vượt giới hạn bền kéo của vật liệu, vết nứt bắt đầu hình thành và phát triển nếu quá trình này tiếp tục đặc biệt các vị trí biên. Nếu khối bê-tông được hạ nhiệt nhanh hoặc biên biến dạng tự do, các ứng suất kéo có thể tăng lên và nhanh chóng vượt qua giá trị bền kéo.
Cần có những can thiệp trong giai đoạn này để giảm sự chênh lệch nhiệt độ trong bê-tông xuống mức thấp nhất có thể.2 Ứng suất nội gây ra bởi chênh lệch nhiệt độ giữa nhiệt thủy hóa bên trong và nhiệt độ môi trường ngoài của khối bê-tông không chịu tải [2] Như ta đã biết, lượng nước nhào trộn xi-măng bê-tông luôn tồn tại một lượng dư so với nhu cầu phản ứng thuỷ hoá, quá trình đóng rắn đi kèm với hiện tượng bay hơi nước. Biến dạng nứt vỡ khi đóng rắn do bay hơi là một trong những nguyên nhân chính gây ra các vết nứt cho bê-tông. Sự mất nước quá nhanh trong quá trình đóng rắn xi-măng kéo theo hiện tượng co dẻo kéo các hạt xi-măng cạnh nhau, từ đó tạo thành các vết nứt li ti trên bề mặt. Nếu quá trình xảy ra ở quy mô lớn hơn có thể tạo nên các vết nứt lớn, kéo dài.
Thực hiện: Nguyễn Ngọc Trí Huỳnh Luận văn cao học Trang 4 Bê tông tự liền vết nứt ứng dụng cơ chế hoạt tính sinh học vi khuẩn Hình 1.3 Quá trình gia tăng nội ứng suất và độ bền kéo trong khối bê-tông với trạng thái phát triển ứng suất chịu kéo không tuyến tính [2] 1. Trạng thái dài ngày (chịu tải) Thông thường, trạng thái làm việc dài ngày của vật liệu bê-tông xi-măng đặc trưng bởi các ứng xử trong điều kiện chịu tải trọng ngoài hoặc các tác động của môi trường gây nên các biển đổi nội tại trong thành phần bê-tông. Khác với các nứt vỡ sớm ngày thường có quy mô rải rác, nhỏ gây ảnh hưởng đến khả năng chịu lực, các biến dạng nứt vỡ khi khi làm việc trong thời gian dài thường có quy mô lớn hơn, tốc độ phát triển nhanh hơn và đặc biêt gây nguy hiểm vì kết hợp trạng thái đang chịu tải của cấu kiện. Ở các môi trường có nhiệt độ cao dưới ánh nắng hay ống khói, cháy… sự giãn nở nhiệt không đều giữa các thành phần pha vữa, cốt liệu hay các vị trí khác nhau cũng gây ra các vết nứt cho bê-tông.
Các tác động của ngoại lực, tải trọng động thiết bị, rung lắc trong quá trình bê-tông làm việc. Phản ứng kiềm cốt liệu theo thời gian dài cũng gây ra các vết nứt. Thông thường sau vài năm, tuy nhiên có thể là sau vài tuần nếu cốt liệu có tính trơ kém. Khi bên trong vật liệu đã xuất hiện các vết nứt tế vi ở giai đoạn sớm ngày trước đây, ứng suất gây ra do tải tác dụng sẽ đẩy nhanh quá trình phá hủy thông qua việc kết nối các vết nứt nhỏ để hình thành các vết nứt lớn.
Thực hiện: Nguyễn Ngọc Trí Huỳnh Luận văn cao học Trang 5 Bê tông tự liền vết nứt ứng dụng cơ chế hoạt tính sinh học vi khuẩn Hình 1.4 Cơ chế phá hủy do lan truyền vết nứt trong vật liệu bê-tông khi chịu ngoại lực tác dụng [1] Hình 1.4 mô tả cơ chế phá hủy vật liệu bê-tông. Xuất phát từ các vết nứt tế vi, đến khi chịu tải (hoặc các vết nứt do ứng suất nội theo thời gian dài), các vết nứt nhỏ tạo cầu nối hình thành vết nứt lớn phá vỡ cấu trúc vật liệu. Thông thường nhiều nghiên cứu đã công bố vị trí phá hoại tập trung trước ở các vùng chuyển tiếp (ITZ) giữa cốt liệu và vữa. Tác động của các vết nứt có thể không lớn nếu vật liệu vẫn chưa bị vượt quá giới hạn chịu lực, vật liệu chưa bị sụp đổ hoàn toàn.
Trong một số trường hợp cũng có thể xảy ra trạng thái hồi phục nếu phương tác dụng tải không cùng với phương vết nứt phát triển. Tuy nhiên qua thời gian dài lại mang ý nghĩa quyết định đến tính bền của vật liệu bê-tông. Theo thời gian, nước cũng như các tác nhân ăn mòn có thể len vào những kẽ nứt, làm xói mòn bê-tông từ bên trong. Các tác nhân oxy hóa còn được tạo điều kiện xâm nhập vào, gây ăn mòn, phá hủy cốt thép, dẫn đến rò rỉ, nứt vỡ hay bất ngờ phá hủy toàn bộ khối cấu kiện bê-tông.
Đây chính là hiện tượng phá huỷ do cộng tác dụng của nứt vỡ do cơ học và nứt vỡ do tính kém bền môi trường. Thực hiện: Nguyễn Ngọc Trí Huỳnh Luận văn cao học Trang 6 Bê tông tự liền vết nứt ứng dụng cơ chế hoạt tính sinh học vi khuẩn Hình 1.5 Các dạng vết nứt trong cấu kiện bê-tông khi ở trạng thái làm việc [3] Từ những vấn đề trên, tiêu chuẩn Việt Nam TCVN 5574:2012 quy định các giới hạn khác nhau về độ mở vết nứt vĩ mô trên các dạng cấu kiện trong điều kiện môi trường không bị xâm thực. Các vết nứt có giá trị giới hạn cho phép từ 0,2mm đến 0,3mm tùy điều kiện làm việc của kết cấu. Rõ ràng quy định này có tính vĩ mô và không quan tâm đến các nguyên nhân phát sinh nứt vỡ.
Tuy nhiên cũng là một cơ sở quan trọng để từ đó tiến hành các kiểm soát qui phạm trong các công đoạn chế tạo, thi công và bảo dưỡng vật liệu bê- tông cũng như sử dụng bố trí cấu kiện trong hệ kết cấu làm việc. Đây có thể xem là quá trình rất phức tạp bởi nhiều các yêu tố chi phối. Bản thân vật liệu bê-tông xi-măng cũng là một vật liệu đa thành phần, cấu trúc đa pha tuỳ theo góc độ đánh giá vi mô hay vĩ mô (marco – meso – micro). Để có cái nhìn tổng quát về các nguyên nhân gây nứt, bảng 1.1 được tổng hợp và trình bày theo các nhóm tác động.