CHƯƠNG 1 TỎNG QUAN 1. SỰ CAN THIET CUA DE TÀI NGHIÊN CỨU 1. Đặc điểm khí hậu Việt Nam Việt Nam năm trọn trong vùng khí hậu nhiệt đới, phần bố thành 3 vùng khí hậu riêng biệt với miền bắc mang khí hậu cận nhiệt đới âm âm, bắc trung bộ là khí hậu nhiệt đới gió mùa, miễn nam và nam trung bộ mang đặc điểm nhiệt đới Xavan (với hai mùa: mùa mưa và mùa khô). Đồng thời, do nằm ở rìa phía đông nam của phân chau A lục địa, giáp với biển Đông (một phan của Thái Bình Duong), nên chịu ảnh hưởng trực tiếp của kiểu khí hậu gió mùa mậu dịch.
Nhìn chung, Việt Nam có một nên nhiệt độ cao. Nhiệt độ trung bình năm từ 22°C đến 27°C. Hàng năm, có khoảng 100 ngày mưa với lượng mưa trung bình từ 1. Độ âm không khí trên dưới 80%.
Số giờ nắng khoảng 1.000 giờ, nhiệt bức xạ trung bình năm 100kcal/cm?. Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây. Do chịu sự tác động mạnh của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ trung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nước khác cùng vĩ độ ở Châu Á [1]. Do ảnh hưởng gió mùa và sự phức tạp về địa hình nên Việt Nam thường gặp bat lợi về thời tiết như bão, lũ lụt, hạn hán (trung bình một năm có 6-10 con bão và áp thấp nhiệt đới, lũ lụt, hạn hán đe dọa).
Với khí hậu và thời tiết như trên có những tác động không nhỏ đến nhiều hoạt động kinh tế xã hôi. Trong đó, cơ sở hạ tầng, hoạt động quy hoạch xây dựng, thiết kế công trình, nguồn vật liệu, đặc biệt là các loại vật liệu dùng để xây dựng công trình, đường ô tô (đảm bảo độ bên, cường độ, tính kinh tẾ,.), ngày càng được quan tâm chú trọng trong quá trình phát triển kinh tế xã hội và hội nhập quốc tế. Thực trạng nhu câu bê tông xi măng trên thế giới và ở Việt Nam. Bêtông là một trong các vật liệu được sử dụng rộng rãi nhất trong các công trình xây dung, hạ tầng kỹ thuật và công trình giao thông.
Trong đó, ximăng Portland đóng vai trò là chất kết dính trong việc sản xuất bê tông hiện nay. Sản lượng ximăng sản xuất trên toàn thế giới không ngừng gia tăng từ 3,3 tỷ tấn (năm 2010) lên khoảng 4.2 tỷ tan vào năm 2015 và sau đó sẽ tăng lên gần 5,9 tỷ tan vào năm 2025, trong tổng số 2,6 tỷ tấn xi măng tiêu thụ dự kiến sẽ tăng lên (từ năm 2010-2025) trên toàn thé giới, có hon 76% thuộc thi trường Chau A [2]. Tuy nhién, Công nghiệp san xuất ximăng lại là một trong các ngành tiêu thụ rất lớn nguén tai nguyên khoáng sản (đá vôi và cốt liệu) và năng lượng (than, dầu, điện) cũng như có sự thải ra lượng khí CO, lớn vào khí quyền. Số liệu điều tra cho thay lượng khí thải CO, từ công nghiệp sản xuất ximăng chiếm khoảng 7% lượng khí thải CO; trên toàn thế giới.
Theo thống kê trung bình dé sản xuất ra 1 tan ximăng đòi hỏi 4 GJ nhiên liệu và sẽ thải ra 1 tan CO> vào khí quyến góp phan gây nên hiện tượng hiệu ứng nhà kính làm cho Trái đất nóng dân lên (Davidovit 1994). Trước áp lực dân số thế giới ngày càng gia tăng, nhu cầu xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng giao thông sẽ trở nên cấp thiết hơn và đòi hỏi ngành công nghiệp sản xuất ximăng phải cung cấp sản lượng lớn dần theo, dự báo tiêu thụ xi măng sẽ tăng khoảng 4% trong năm 2013, tiếp theo là 9,7% trong năm 2014 và 2015 (Hiệp hội xi măng Portland (PCA)-Mỹ). Nguồn tài nguyên khoáng sản va các nguyên liệu khác dé sản suất bêtông ximăng sẽ được khai thác triệt để hơn và trở nên khan hiếm. Đồng thời, lượng khí thai CO, do quá trình sản xuất ximăng tiếp tục gia tăng sẽ lam khí hậu toàn cầu nóng dan lên gây ra những hệ quả khôn lường như : làm biến đổi khí hậu.
thiên tai lũ lụt, hạn hán kéo dài, tan băng. Hiện nay, ở Việt Nam, xi măng đang giữ vai trò quan trọng trong các công trình xây dựng, cơ sơ hạ tang, nhu cau tiéu thu xi mang lién tuc gia tang qua cac nam, gan 60 triệu tan vào năm 3013 và dự báo nhu cau xi măng năm 2014 cả nước sẽ tăng 1,5-3% so với năm 2013 (nguồn BXD). Nhu cầu tiêu thụ xi măng qua các năm (triệu tan/nam) SYw&W&o©C © Nam Nam Nam Nam Năm Nam Nam Nam Nam JOOS 2006 2007 2008 2009 2O1G 2011 2012 2013 Hình 1. Nhu cầu tiêu thụ xi măng tại Việt Nam qua các năm [3] Bên cạnh đó, việc đầu tư nâng cấp xây mới hệ thống đường giao thông đang diễn ra mạnh mẽ, đặc biệt là cùng với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020, hệ thống đường giao thông nông thôn đang là van đề ưu tiên cấp thiết nhằm đáp ứng nhu cầu người dân, làm cơ sở dé phát triển kinh tế xã hội và góp phần vào mục tiêu phát triển bền vững của cả nước.
Bêtông asphalt và bêtông ximăng là hai loại vật liệu được chọn lựa chủ yếu dé làm kết cấu lớp mặt trong công trình đường giao thông. Bêtông ximăng có những ưu điểm hơn về tudi thọ, khả năng chịu lực cao va rất 6n định với nước nên đang dần thay thé bêtông asphalt trên toàn thé giới cũng như ở Việt Nam. Tuy nhiên, chi phí ban đầu, giá thành sản xuất lại khá cao. Bên cạnh đó, những hệ quả trong việc sản xuất và sử dụng bê tông xi măng như phân tích ở trên cần được quan tâm.
Do đó, nghiên cứu su dung bêtông không xi măng trong công trình giao thông nông thôn tại Việt Nam để thay thế bê tông xi măng, đáp ứng được những yêu cầu kỹ thuật như có độ bên, khả năng chịu lực cao, ôn định với nước, hao mòn ít, thân thiện với môi trường, giảm được lượng khí thai CO, và có chi phí sản xuất xây dựng rẻ hơn là vân đề cân thiệt hiện nay. TONG QUAN VE DUONG GIAO THONG NONG THON 1.1 Hiện trạng cua giao thong nông thôn Cùng với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất đước, mục tiêu phát triển bên vững và hội nhập quôc tê. Xây dựng nông thôn đang là vân đê được các câp, các ngành quan tâm sâu sắc. Dé phát triển được thế mạnh của nông thôn và hiện đại hóa nông thôn cần phải quan tâm đến các van dé như đường giao thông.
hệ thông điện, trạm y té, truong hoc, nguồn nước sạch. Trong đó, đường gao thông là huyết mạch, là tiền dé cho các yếu tố khác, là động lực để xây dựng nông thôn vững mạnh. Mạng lưới đường giao thông nông thôn là bộ phận giao thông địa phương nối tiếp với hệ thống đường quốc gia nhằm phục vụ sản xuất Nông-Lâm-Ngư nghiệp và phục vụ giao lưu Văn hóa — Kinh tế - Xã hội của các làng, xã, thôn xóm. Mạng lưới này nhằm phục vụ cho các xe cơ giới loại trung, nhẹ và xe thô sơ qua lại.
[4| Cấp thiết kế của đường giao thông nông thôn có 4 cấp: AH, A, B và C. - Đường cấp AH là đường nối trung tâm hành chính của huyện với trung tâm hành chính của xã, cụm xã hoặc trung tâm hành chính của huyện lần cận; đường có vị trí quan trọng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội của huyện; đường cấp AH được phân ra hai loại là địa hình đồng bang (AH) và miền núi (AHyy), tiêu chuẩn kỹ thuật tương đương với đường cấp VI. - Đường cấp A và cấp B là đường nối từ xã đến thôn, liên thôn và từ thôn ra cánh đồng. Đường cấp C là loại đường nối từ thôn đến xóm, liên xóm, từ xóm ra ruộng đồng, đường nối các cánh đồng [5].
A hoặc B A hoặc B THON | N / TƯƠNG / R A hoặc B —— \ THON B hoặc C — B hoac C ._ SN \ B hoặc C _ NỊ { DONG \ RUONG / Bhoặc C XOM „ — / £ _ —; N ra h TM B hoặc C DONG /] (\ RUONG \ B hoặc C. Sơ đồ cấp thiết kế đường giao thông nông thon [5]. Vai trò của các thành phân nguyên liệu trong bê tông xi măng dùng cho giao thông Bê tông đường xi măng được làm từ nhiều thành phần khác nhau chủ yếu được tạo từ vữa, cốt liệu (đá, cát) và phụ gia. Chất lượng của bê tông phụ thuộc rất lớn vào chất lượng của vữa và chất lượng của bê tông đông cứng được quyết định bởi lượng nước sử dụng liên quan với hàm lượng xi măng.
XI măng portland Có nhiều loại xi măng khác nhau, tuy nhiên xi măng được sử dụng rộng rãi nhất ở Mỹ và ở hầu hết các nơi trên thế giới là xi măng Portland, nó được phát triển bởi Joseph Aspdin, năm 1824. Ximang Portland dung kết hợp với cốt liệu lớn, cốt liệu nhỏ và lượng nước hydrat hóa vừa đủ để tạo kết câu có cường độ và bền theo thời gian. Cốt liệu Cốt liệu chiếm 70 80% thé tích bê tông va do đó có ảnh hưởng quan trọng tới tính chất của bê tông, sử dụng đúng loại của cốt liệu ảnh hưởng lớn đến tính chất hỗn hợp bê tông tươi và bê tông cứng, tỷ lệ hỗn hợp và tính kinh tế. [7] Cốt liệu có thể phân biệt thành hai loại khác nhau dựa trên kích cỡ hạt.
Cốt liệu nhỏ bao gồm cát thiên nhiên hoặc đá nghiên với nhiễu hạt nhỏ hơn 1/5 inch (5mm). Cốt liệu thô bao gồm cốt liệu nghiền nát với các hạt lớn hơn 1/5 inch (5mm) và giữa 3/8 và 1-1/2 inches (9,5 và 37. Đối với mặt đường, ưu tiên sử dung kích cỡ cốt liệu thô lớn nhất, được giới hạn đến 1/3 chiều dày mặt đường. Bởi vì, giảm được ti lệ vữa, do đó giảm co ngót.
Theo tài liệu [6], kích thước hat cốt liệu thô phù hợp cho bê tông đường dao động 19 - 25 mm. Cốt liệu phải được làm sạch, cứng, bên tránh mài mòn hóa học và cốt liệu với sức kháng thấp với khí hậu nên được tránh trong hỗn hợp bê tông. Dac tính của bê tông đường xi mang Đặc tính mong muốn yêu cầu trong bất kỳ hỗn hợp bê tông đường xi măng là: tinh dé thi công. tính thắm, sức chồng mài mòn, tính kinh tế.1 Tinh dé thi công [8] Tính dễ thi công (hay còn gọi tính công tác) đề cập tới việc dễ đồ, đầm chặt và hoàn thiện hỗn hợp bê tông tươi mà không phân tầng hoặc tách nước quá mức.