CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ MÓNG CỌC VÀ MỘT SỐ TỒN TẠI TRONG TÍNH TOÁN THIẾT KẾ MÓNG CỌC 1.1 Khái niệm móng cọc và điều kiện áp dụng Trong nhiều trường hợp thực tế xây dựng công trình, một bộ phận phía trên của nền công trình có thể là lớp đất tương đối yếu, vì thế cần phải truyền áp lực từ công trình đến các lớp đất chặt hơn nằm ở độ sâu nào đó. Trong những trường hợp này người ta không dùng móng nông mà thường dùng móng cọc và có thể coi đây là biện pháp xử lý nền dưới sâu, móng cọc có khả năng tiếp thu tải trọng lớn và tiết kiệm do giảm khối lượng đào đắp đất. Hiện nay móng cọc được sử dụng rộng rãi trong các ngành xây dựng, thuỷ lợi, giao thông. Cấu tạo móng cọc gồm ba bộ phận: cọc, đài cọc và đất bao quanh cọc, trong đó cọc là bộ phận chính có tác dụng truyền tải trọng từ công trình lên đất ở mũi cọc và xung quanh cọc.
Đài cọc có tác dụng liên kết các cọc thành một khối và phân phối tải trọng công trình lên các cọc. Đất bao quanh cọc được cọc lèn chặt tiếp thu một phần tải trọng và phân bố đều hơn lên đất đầu mũi cọc.1: Kết cấu móng cọc 1) Kết cấu bên trên; 2) Đài cọc; 3) Cọc Hiện nay việc tính toán móng cọc được thực hiện theo TCXDVN-205-1998- Móng cọc Tiêu chuẩn thiết kế. Trong tiêu chuẩn này có quy định một số thuật ngữ để có tính thống nhất trong tính toán thiết kế móng: 4 - Cọc: là một kết cấu có chiều dài so với bề rộng diện ngang được đóng, ấn hay thi công tại chỗ vào lòng đất, đá để truyền tải trọng công trình xuống các lớp đất đá sâu hơn nhằm cho công trình xây dựng đạt yêu cầu của trạng thái giới hạn quy định. - Cọc chiếm chỗ: là loại cọc được đưa vào lòng đất bằng cách đẩy đất ở dưới sâu ra xung quanh, bao gồm các loại cọc chế tạo được đưa xuống độ sâu thiết kế bằng phương pháp đóng (được gọi là cọc đóng), ấn (được gọi là cọc ép) và rung, hay loại cọc nhồi đổ tại chỗ mà phương pháp tạo lỗ được thực hiện bằng phương pháp đóng.
- Cọc thay thế: là loại cọc thi công bằng cách khoan lỗ và sau đó lấp đầy bằng vật liệu khác ( ví dụ cọc nhồi đổ tại chỗ ) hoặc đưa các loại cọc chế tạo sẵn vào. - Cọc thí nghiệm: là cọc được dùng để đánh giá sức chịu tải hoặc kiểm tra chất lượng cọc. - Nhóm cọc: gồm một số cọc được bố trí gần nhau và cùng có chung một đài cọc. - Băng cọc: gồm những cọc được bố trí theo 1 - 3 hàng dưới các móng băng.
- Bè cọc: gồm nhiều cọc có chung một đài với kích thước lớn hơn 10 x10m - Đài cọc: là phần kết cấu để liên kết các cọc trong một nhóm cọc với công trình bên trên. - Cọc đài cao: là hệ cọc trong đó đài cọc không tiếp xúc với đất. - Cọc chống: là cọc có sức chịu tải chủ yếu do lực ma sát của đất tại mũi cọc. - Cọc ma sát: là cọc có sức chịu tải chủ yếu do ma sát của đất tại mặt bên cọc.
Trong các công trình xây dựng, móng cọc có tác dụng truyền tải trọng từ công trình xuống lớp đất có cường độ lớn ở đầu mũi cọc và đất xung quanh móng. Trong thực tế xây dựng móng cọc thường được sử dụng khi tải trọng công trình tương đối lớn và lớp đất tốt lại nằm ở sâu, hoặc ở những nơi có mực nước ngầm tương đối cao. 5 Móng cọc có các ưu điểm nổi bật như sau: - Giảm khối lượng làm đất, tận dụng được lớp đất nền cũ và tiết kiệm vật liệu làm móng. - Dễ dàng cơ giới hoá trong việc thi công.
- Trong một số công trình phức tạp, có thể dùng móng cọc ở những bộ phận chịu tải trọng lớn hoặc tại những chỗ đất yếu để giảm chênh lệch về lún. Có một số trường hợp không nên dùng biện pháp móng cọc, chẳng hạn trường hợp nền đất là cát chặt, khi đóng cọc sẽ làm đất bị tơi ra; nền đất có tác dụng của lực thấm, cọc đóng vào sẽ làm dòng thấm tập trung, tăng thêm khả năng phá hoại của dòng thấm đối với nền. Cọc đơn và nhóm cọc 1. Cọc đơn Phân loại cọc đơn: a) Theo tác dụng làm việc giữa đất và cọc, cọc được phân thành hai loại: Cọc chống : truyền tải trọng lên lớp đất đá có cường độ lớn, vì thế lực ma sát ở mặt xung quanh cọc thực tế không xuất hiện và khả năng chịu tải của cọc chỉ phụ thuộc khả năng chịu tải của đất đầu mũi cọc [2].
Cọc treo - còn gọi là cọc ma sát : Đất bao quanh cọc là đất chịu nén (đất yếu) và tải trọng được truyền lên nền nhờ lực ma sát ở xung quanh cọc và cường độ của đất đầu mũi cọc. b) Theo vật liệu làm cọc, cọc được phân thành: cọc gỗ, cọc bê tông, cọc bê tông cốt thép, cọc hỗn hợp, cọc thép, cọc tre. Chọn vật liệu làm cọc phải căn cứ cụ thể vào khả năng chế tạo cọc, điều kiện địa chất, địa chất thuỷ văn, phương pháp hạ cọc. c) Theo phương pháp chế tạo cọc, cọc được chia làm hai loại: cọc chế tạo sẵn và cọc đúc tại chỗ.
(1) Cọc chế tạo sẵn: Liên quan tới ba vấn đề: Chế tạo cọc - Vận chuyển cọc - Đưa cọc vào trong đất. Tuỳ theo phương pháp thi công hạ cọc lại phân thành các loại sau: 6 - Cọc hạ bằng búa thường (búa treo, búa điêzen, búa hơi); thường dùng cọc gỗ, cọc bê tông cốt thép. - Cọc hạ bằng phương pháp xoắn (còn gọi là cọc xoắn) thường là cọc thép hoặc cọc có đầu xoắn bằng thép. - Cọc hạ bằng phương pháp xói nước.
- Cọc hạ bằng máy chấn động (cọc ống. - Cọc mở rộng chân. (2) Cọc đúc tại chỗ (cọc nhồi): Cọc nhồi là loại cọc được chế tạo tại chỗ, đổ bê tông cọc trong nền đất.Cọc nhồi là cọc được thi công tạo lỗ trước trong đất, sau đó lỗ được lấp đầy bằng bê tông hoặc bê tông cốt thép. Việc tạo lỗ được thực hiện bằng phương pháp khoan, đóng ống hay các phương pháp đào khác.
Cọc nhồi có đường kính bằng và nhỏ hơn 600mm được gọi là cọc nhồi có đường kính nhỏ, cọc nhồi có đường kính lớn hơn 600mm được gọi là cọc nhồi đường kính lớn. Người thiết kế và người thi công cần có hiểu biết đầy đủ về điều kiện đất nền cũng như đặc điểm của công nghệ dự định thực hiện để đảm bảo các quy định về chất lượng cọc. d) Phân loại cọc theo phương của trục cọc (sau khi đã đóng cọc vào trong đất): - Cọc đứng: Thông thường cọc được đóng thẳng đứng và ngập hoàn toàn trong đất, khi xác định sức chịu tải theo vật liệu cọc thì không cần phải xét đến ổn định của cọc. Đối với cọc chống xuyên qua nền đất yếu (sức chống cắt không thoát nước nhỏ hơn 10 kPa) thì cần xét đến độ ổn định của cây cọc.
- Cọc xiên Cọc xiên sử dụng khi tải trọng ngang lớn. Trong tính toán phân bố tải trọng, cọc được xem là làm việc dọc trục và được xác định bằng phương pháp hình học hoặc giải tích. Tuy nhiên trong thực tế luôn có mômen tác dụng lên cọc. Độ lớn của mô- men uốn nối trên phụ thuộc vào độ lún của nhóm cọc, độ nghiêng của cọc và kiểu liên kết giữa cọc và đài cọc.
7 Cọc xiên một hướng: góc xiên giữa trục cọc và phương thẳng đứng từ 50 đến 100 có thể đến 150. Cọc nạng (xiên hai hướng và nhiều hướng): Góc xiên > 100 ÷ 150. e) Phân loại cọc theo dạng tải trọng tác dụng lên móng cọc - Cọc chịu tải lệch tâm Thông thường tải trọng tại chân cột là tải trọng lệch tâm hoặc có một giá trị tải trọng ngang và mô- men nhỏ hơn so với giá trị tải trọng thẳng đứng. Mặt khác cọc không thể thi công được đúng vị trí nên làm tăng độ lệch tâm của hệ cọc; điều đó có nghĩa là luôn tồn tại một giá trị lệch tâm nào đó.
Vì vậy cọc nên được thiết kế để chịu được những tình huống tải trọng nêu trên. - Cọc chịu tải trọng nhổ Trong nhiều trường hợp cọc làm việc với cọc nhổ, như cọc neo, cọc của móng các công trình với dạng tháp, trong đó giá trị tải trọng thẳng đứng là nhỏ hơn so với lực ngang và mô- men. Cọc được thiết kế như các thanh chịu kéo. Nếu cọc được làm bằng bê tông cốt thép, cốt thép sẽ chịu toàn bộ giá trị lực nhổ.
Bê tông cọc neo thường bị nứt, vì vậy cần chú ý đến các tác nhân ăn mòn, gây hư hỏng cốt thép cọc làm ảnh hưởng đến khả năng chịu tải lâu dài của cọc. - Cọc chịu tải trọng ngang Cọc được đóng thẳng đứng có thể phải chịu lực ngang trong một số trường hợp như : cọc đài cao, kết cấu bên trên chịu tải trọng ngang, khi xuất hiện lực xô ngang hoặc tải trọng động đất. Tải trọng ngang lúc này cần được kể đến vì có thể sẽ gây bất lợi cho sự làm việc của cọc. Nhóm cọc Phân loại nhóm cọc: a) Theo vị trí đài cọc: Gồm hai loại (hình1.2) - Móng cọc đài thấp (thường dùng trong các công trình thuỷ lợi, xây dựng).
- Móng cọc đài cao (thường dùng trong các công trình giao thông, cầu, cảng). Móng cọc đài thấp thường có đài đặt thấp dưới mặt đất và có tác dụng truyền một phần áp lực thẳng đứng lên đất nền. 8 Đài của móng cọc đài cao thường đặt ở vị trí cao hơn mặt đất, nó liên kết với các cọc tạo thành một hệ kết cấu không gian siêu tĩnh nhiều bậc, sự tiếp thu lực và làm việc của các cọc sẽ phức tạp và khác nhiều so với móng cọc đài thấp.2: Móng cọc đài thấp (a) , móng cọc đài cao (b) b) Theo tác dụng giữa đất và cọc, móng cọc được phân thành: - Móng cọc chống: bao gồm các cọc chống; - Móng cọc treo: bao gồm các cọc treo (hình 1.3: Móng cọc chống (a) và móng cọc treo (b) Điều kiện làm việc hai loại móng này [9] khác nhau do đó yêu cầu tính toán cũng khác nhau. Nguyên tắc tính toán thiết kế móng cọc 1.
Các bước tính toán cơ bản Căn cứ vào điều kiện tải trọng công trình, điều kiện đất nền người thiết kế chọn loại cọc và móng cọc. Tính toán sức chịu tải của cọc đơn theo điều kiện đất nền và theo điều kiện vật liệu làm cọc.