MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài Xã hội ngày càng phát triển, tính an toàn của các loại phương tiện giao thông được nâng cao ro rệt thé hiện ở các quy chế về an toàn. Một phương tiện giao thông đặc biệt là dùng để vận chuyển hành khách, trước khi xuất xưởng và cấp giấy phép lưu hành đều phải trải qua các thí nghiệm mô phỏng va chạm. Vi du 6 tô, tàu hỏa, tau bay, tàu thủy. Ô tô có các thí nghiệm về va chạm trực diện, va chạm ngang, và mới nhất là va chạm chéo.
Trong các kết cấu dùng dé hap thụ năng lượng, trụ tròn thành mỏng thường được ứng dụng rộng rãi. Hình 1-1: Thứ nghiệm va chạm tàu bay, nghiên cứu cấu trúc giảm thương vong khi tai nạn [1]. Trụ tròn khi chịu va đập vận tốc thấp bị biến dạng thành các kiểu đối xứng, bat đối xứng hoặc bị oan. Tuy nhiên nguyên nhân vì sao xuất hiện các kiểu biến dạng như vậy chỉ được nghiên cứu đầu thập niên 80 và rất ít tiếp tục cho đến thời điểm hiện tại trên thế giới.
Một điểm đáng lưu ý là các nghiên cứu trước chủ yếu làm thực nghiệm, chỉ một vài nghiên cứu thực hiện bằng phương pháp mô phỏng số. Hiện 10 nay nó van là dé tài hap dẫn vì mang tính ứng dụng cao, ví dụ như cơ cau hấp thụ năng lượng khi va chạm trực diện của ô tô để giảm thiểu thương vong khi bị tai nạn, đường ống dẫn dau, kết câu xây dựng.Ở nước ta hiện nay, chưa có phòng thi nghiệm liên quan va cũng chưa có nhiều nghiên cứu chuyên sâu đến van dé này. Trong tương lai gần, ngành công nghiệp chế tạo ô tô, tàu thủy, máy bay hạng nhẹ. trong nước sẽ phát triển mạnh mẽ và tiêu chuẩn liên quan đến tính an toàn cho phương tiện cũng sẽ nâng cao ngang tầm với thế giới.
Vì vậy tính ứng dụng của dé tài rât cao. Cac công trình đã nghiên cứu trong và ngoài nước Năm 1960, Alexander [2] lần đầu tiên công bố nghiên cứu sự biến dạng của ống kim loại thành mỏng chịu lực va đập dọc trục. Ông đã đưa ra mô hình đơn giản các nếp gap đối xứng đồng trục dựa trên nghiên cứu thực nghiệm. Ông kim loại khi bị va đập dọc trục sẽ tạo thành các nếp gấp ra phía ngoài và vào trong.
Nếp gấp được tạo bởi ba điểm bản lề dẻo và các đường cong giữa các bản lẻ. Từ đó tác giả đã giới thiệu công thức tính lực va đập trung bình cho nếp gấp dọc trục cũng như kích thước nếp gấp. Kết quả thực nghiệm của Alexander phù hợp hai công thức trên và mô hình đơn giản này đã được áp dụng cho nhiêu nghiên cứu sau này. Pugsley và Macauley [3] là những nhà nghiên cứu đầu tiên xem xét đến kiểu biến dạng nếp gap bất đối xứng.
Johnson và cộng sự [4] đã cố gắng phát triển lý thuyết về kiêu không đồng trục dựa trên các hình dạng có sẵn của nếp gap, với vật liệu ống tại giữa bề mặt được giả thiết gấp lại. Từ đó tác giả đã có thể phát triển công thức để dự đoán lực va đập trung bình. Mặc dù vậy sự đồng thuận giữa mô hình và thử nghiệm cho ống nhựa P.C chưa được tốt lắm. Năm 1984, Abramowicz và John [5, 6] đã làm các thử nghiệm trên dải ống thép trụ tròn và vuông thành mỏng.
Họ nghiên cứu các kiểu đối xứng và bất đối xứng. Abramowicz đã đưa vào khoảng va đập hữu hiệu, nếp gấp bao gồm hai phân đoạn cong theo hướng ngược nhau và vật liệu có độ dày hữu hạn. Cơ chế gấp bất đối xứng có tính đên môi liên hệ giữa khoảng cách va đập hữu hiệu và hệ sô biên dạng II vật liệu. Abramowicz và John cũng đã đưa ra được ảnh hưởng của kích thước hình học của trụ tròn đến các kiểu bién dạng, cụ thể : - « R/h (bán kinh/bé dày) < 37.8 kiểu biến dạng là đối xứng » - «R/h>37.8 kiểu biến dạng là bất đối xứng ».
Tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu đến năng lượng hấp thụ của ống kim loại cũng như các nghiên cứu về ảnh hưởng của kích thước hình học đến các kiểu biến dạng, kế cả các kiểu biến dạng oăn hay còn gọi là kiểu biến dạng « Euler » như S. Guillow và cộng sự [7] đã đưa ra được biểu đỗ các kiểu biến dạng của nhôm 6060- T5 theo tỉ lệ L/D và D/h. Các công trình nghiên cứu trên chủ yếu dựa trên thực nghiệm hoặc so sánh thực nghiệm với tính toán sô. Các công trình nghiên cứu trong nước : chỉ dừng lại ở các đồ án tôt nghiệp đại học của các sinh viên bat đầu từ hai năm gan đây.
Chưa có dé tài nghiên cứu chuyên sâu vệ van đê này. b) Các van dé còn tôn tại can tap trung nghiên cứu Các nghiên cứu trước đây chủ yếu thực hiện bằng các phương pháp thực nghiệm tại các phòng thí nghiệm. Có rất ít nghiên cứu về sự va đập kết câu thành mỏng bang phương pháp số và rất ít nghiên cứu liên quan đến các kiểu biến dạng bất đối xứng của Ống trụ tròn thành mỏng nói chung khi chịu tải va đập. Hơn nữa, ở nước ta hiện nay chưa có phòng thí nghiệm chuẩn để thực hiện nghiên cứu này.
Trong dé tài này, ảnh hưởng kích thước hình học của ống trụ tròn thành mỏng đến các kiểu biến dạng đã được nghiên cứu bằng phương pháp mô phỏng phan tử hữu hạn. Các kiểu biến dạng, các giới hạn chuyên đổi giữa các kiểu bién dạng đặc biệt là các kiểu không đối xứng khi thay đổi kích thước ống trụ tròn thành mỏng được so sánh với két quả thực nghiệm đã được công bô trên các bai báo quôc tê. 12 Luận văn thạc sỹ của tác giả Lý Hùng Anh [8] cũng đề cập đến ứng xử của trụ tròn, trụ vuông, lục giác, bát giác khi chịu tải va đập vận tốc thấp. Tác giả đã sử dụng cả thực nghiệm và tính toán số để so sánh và đánh giá năng lượng hấp thụ ở các loại cau trúc thí nghiệm trên.
Trong nước, mặc dù nghiên cứu của Lê Minh Vũ [9] đã từng thực hiện tương tự, tuy nhiên một số kết quả vẫn chưa hợp lý cho các kiểu biến dạng và chưa so sánh được với thực nghiệm.2 Mục tiêu và phương pháp nghiên cứu Mục tiêu nghiên cứu: Trong luận văn này lý thuyêt và thực nghiệm về ứng xử của trụ tròn chịu tải va đập vận tôc thâp được nghiên cứu từ các bài báo, sách và công trình nghiên cứu của các tác giả có uy tín trên thê giới. Nghiên cứu đặc biệt tập trung vào hai nội dung chính sau đây : - Anh hưởng kích thước hình hoc lên các kiểu biến dạng của ống trụ tròn thành mỏng chịu tải va đập dọc trục vận tốc thấp. - — Xác định mô hình kích hoạt biến dạng có thé mô phỏng kết quả đúng với thực tế (biến dạng đối xứng, bất đối xứng và biến dạng oan). Phương pháp tiếp cận: - Phương pháp giải tích: Dựa vào các kết quả của các bài báo nghiên cứu khoa học để xác định ứng xử các kiểu biến dạng của trụ tròn thành mỏng chịu tải va đập vận tốc thấp.
- Phuong pháp phan tử hữu han: sử dung phan mềm mô phỏng số LS DYNA để phân tích ứng xử các kiểu biến dạng khi thay đổi kích thước chính. Dua ra các kết luận dự đoán kiểu biến dạng sát với thực nghiệm của ống trụ tròn thành mỏng khi thay đổi kích thước.3 Y nghĩa khoa học và thực tiễn của dé tài nghiên cứu Nhăm kiểm nghiệm và tìm ra giới hạn chuyển đổi các kiểu biến dạng khác nhau, đưa ra mô hình phan ánh được hiện tượng thực. Tạo mô hình đáng tin cậy cho các nghiên cứu mô phỏng sô sau này. 14 CHƯƠNG 2 — CƠ SỞ LÝ THUYET 2.1 Va đập dọc trục vận tốc thấp Tru tròn thành mỏng khi chịu lực nén tinh hoặc lực va đập dọc trục như Hình 2.1 sẽ có biểu đồ biểu thị lực va đập — chuyển vị tương tự như Hình 2.
T | || | |- | | | | ro | | | | | | || | | | | : | | | | | | T777777Ì///// | Hình 2-1: Trụ tron thành mong chịu lực va đập P [9] Trụ tròn chiều dai L, bán kính R và có độ dày thành h chịu tải va đập P. Tại thời điểm va đập đầu tiên, lực va đập sẽ có đỉnh lực lớn nhất (Điểm A biểu đồ Hình 2. Tai thời điểm này cấu trúc chịu lực có xu hướng mat ốn định và nếp gap đầu tiên được hình thành. Hầu hết các cấu trúc chịu lực đều được thiết kế dựa trên giá trỊ lực va đập này chia cho hệ số chịu tải an toàn.
Khi lực va đập không đủ lớn, cầu trúc sẽ không bị biến dạng. Khi lực đủ lớn, nếp gap đầu tiên được hình thành, nếp gap này luôn có xu hướng phình ra ngoài. Trong quá trình hình thành nếp gấp, lực va đập giảm dan cho tới đáy @, lúc này nếp gap đã hoàn thành. Lực va đập tiếp tục tăng đến đỉnh @.
Nếp gấp tiếp theo được hình thành, nếp gấp này cong vào phía trong. Quá trình hình thành nếp gấp tiếp tục cho đến khi lực va đập không đủ lớn để làm 15 biến dạng cau trúc. Theo thực nghiệm, đỉnh lực để tao các nếp gap cong ra ngoài thường có giá trị lớn hơn đỉnh lực cho các nếp gấp cong vào phía trong.2 b biểu thi các nếp gấp của trụ thép tròn chịu va đập tương ứng với các điểm từ © đến © trên biểu đỗ lực va đập-chuyên vị (Hình 2. Day phía trên biểu thị hình bên ngoài trụ tròn, dãy phía dưới biểu thị mặt cắt bên trong trụ.
A(mm) Hinh 2-2: Tru thép mêm bién dang khi chịu luc va dap a) Biểu đô biểu thi lực va đập — chuyên vị, b) Biến dang trụ tròn tương ứng với các điểm từ O đến @ trên biếu đô Hình 2. Trong khi tiến hành thực nghiệm, lực va đập sẽ có sự dao động do cầu trúc mất ôn định tức thời, trong tính toán các dao động này được loại bỏ băng cách sử dụng lực va đập trung bình như biểu đồ Hình 2. Khi tải va đập chuyển động với vận tốc gan tĩnh lực quán tính không ảnh hưởng tới cơ chế hình thành nếp gấp và lực va đập trung bình. Do vậy trong các bài toán va chạm tĩnh hoặc gần tĩnh, ảnh hưởng của lực quán tính được loại bỏ.
Sự phản hồi của trụ tròn khi chịu tải va đập như trên được điều khiến bởi hiện tượng uốn tĩnh lũy tiến (static progressive buckling).