Tổng quan luận án

Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) có diện tích tự nhiên khoảng 3.000 ha trải rộng trên 12 tỉnh thành: An Giang, Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang, Bến Tre, Vĩnh Long, Kiên Giang, Cần Thơ, Hậu Giang, Trà Vinh, Sóc Trăng, Bạc Liêu và Cà Mau. Địa hình khu vực phần lớn có cao độ tự nhiên dưới +5,00 m (theo hệ cao độ Mũi Nai) và chịu tác động trực tiếp từ chế độ thủy văn của sông Mê Kông với tổng lưu lượng hàng năm khoảng 450 tỷ $\text{m}^3$. Mùa lũ thường bắt đầu từ cuối tháng 7, đạt đỉnh vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 và kéo dài từ 2 đến 5 tháng với diện tích ngập gần 1.000 ha, chia thành nhiều phân vùng ngập sâu từ dưới 1 m đến trên 3 m.

Địa tầng lớp mặt tại ĐBSCL chủ yếu là đất sét pha cát có nguồn gốc hữu cơ và không hữu cơ. Khi xây dựng công trình giao thông, lớp sét pha cát không hữu cơ có chiều dày từ 3 m đến 26 m thường được bóc bỏ lớp hữu cơ mặt và tận dụng làm vật liệu đắp thân nền đường. Tuy nhiên, trong điều kiện ngập lũ định kỳ hàng năm, độ ẩm trong nền đường gia tăng nhanh chóng, dẫn đến suy giảm nghiêm trọng mô đun đàn hồi ($M_r$), làm tăng biến dạng lún dư, nứt mặt đường và sạt lở ta luy.

Chỉ tiêu cơ lý Đơn vị Sét pha cát hữu cơ Sét pha cát không hữu cơ
Tỉ số rỗng ($e$) - 1,2 – 3,0 0,7 – 1,5
Dung trọng khô ($\gamma_d$) $\text{kN/m}^3$ 6,4 – 9,5 10,5 – 15,5
Dung trọng tự nhiên ($\gamma_w$) $\text{kN/m}^3$ 13,5 – 16,5 16,5 – 19,5
Độ ẩm tự nhiên ($w$) % 50 – 100 25 – 55
Giới hạn lỏng ($W_L$) % 50 – 100 40 – 65
Giới hạn dẻo ($W_P$) % 20 – 70 20 – 30
Chỉ số dẻo ($I_P$) % 14 – 17 11 – 15
Lực dính ($c$) $\text{kN/m}^2$ 5 – 12 10 – 28
Góc ma sát trong ($\varphi$) độ 5 – 10 8 – 17
Mô đun biến dạng ($E_{1-2}$) $\text{kN/m}^2$ 800 2400
Hệ số thấm ($K$) $\text{cm/s}$ - $2,2 \times 10^{-6}$

Khoảng trống nghiên cứu lớn tại khu vực là việc xác định mô đun đàn hồi phục vụ tính toán chiều dày kết cấu áo đường mềm chủ yếu dựa vào thí nghiệm hiện trường tốn kém, mất nhiều thời gian (như bàn nén tĩnh hoặc cần Benkelman), trong khi chưa có mô hình hồi quy nào xét đồng thời ảnh hưởng của độ ẩm và hàm lượng hạt mịn lọt qua sàng No.200 ($< 0,075\text{ mm}$) phù hợp với điều kiện đất dính ĐBSCL.

Luận án xác định ba mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Xác định mức độ ảnh hưởng của độ ẩm và thành phần hạt mịn hơn 0,075 mm đến mô đun đàn hồi của nền đường đắp đất sét pha cát vùng ĐBSCL thông qua các chỉ tiêu vật lý cơ bản.
  2. Đề xuất các giá trị thích hợp của hệ số hồi quy trong công thức Dong-Gyou Kim (2004) để ước tính giá trị mô đun đàn hồi cho đất sét pha cát ĐBSCL.
  3. Thiết lập mối tương quan về mô đun đàn hồi giữa kết quả thí nghiệm bàn nén tải trọng tĩnh ở hiện trường với thí nghiệm nén nhanh bằng buồng ba trục trong phòng thí nghiệm.

Đối tượng nghiên cứu là nền đường đắp bằng đất sét pha cát. Phạm vi không gian giới hạn tại các tuyến đường ngập lũ hàng năm thuộc 3 tỉnh Đồng Tháp, Long An và Tiền Giang. Phạm vi áp dụng của kết quả dành cho điều kiện xe lưu thông tốc độ chậm dưới 40 km/h, khu vực nút giao và bãi đỗ xe.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Khái niệm mô đun đàn hồi ($M_r$) được phát triển dựa trên cơ chế biến dạng dưới tải trọng lặp: sau một chu kỳ đặt tải và dỡ tải, biến dạng dẻo tích lũy dần triệt tiêu, biến dạng đàn hồi đóng vai trò quyết định đến độ lún công trình đường. Kim và Drabkin (1994) đã chuẩn hóa cách xác định $M_r$ là tỷ số giữa ứng suất lệch ($\sigma_d$) và biến dạng trục đàn hồi ($\varepsilon_r$).

Các công trình nghiên cứu trước đây đã phân tích nhiều khía cạnh ảnh hưởng đến $M_r$:

  • Ảnh hưởng của độ ẩm và độ bão hòa: Chu et al. xác lập quan hệ giữa lực hút dính và độ ẩm; Đại học Xây dựng Hà Nội (1995) thiết lập tương quan giữa mô đun đàn hồi và độ ẩm tương đối ($w/W_L$); Thadkamalla và George (1995) chứng minh sự gia tăng độ bão hòa làm giảm từ 50% đến 75% giá trị $M_r$; Drumm et al. (1997) đề xuất phương pháp hiệu chỉnh $M_r$ theo độ bão hòa gia tăng.
  • Ảnh hưởng của độ chặt và dung trọng: Elfino và Davidson (1989), Elliot và Thornton (1988), Pezo và Hudson (1994), Drumm et al. (1990) chỉ ra việc ước tính theo AASHTO có sai số khi chưa xét chu kỳ ẩm; Li và Selig (1994) thiết lập phương pháp ước tính $M_r$ theo hai lộ trình thay đổi độ ẩm với dung trọng khô hằng số và công đầm hằng số; Burczyk et al. (1994), Thompson và Robnett (1976, 1979), Rada và Witczak (1981) khảo sát quan hệ giữa $k_1, k_2$ và ứng xử phi tuyến.
  • Cơ học đất không bão hòa và lực hút dính: Fredlund et al. (1977), Vanapalli (2007), Oh et al. (2006), Costa et al. (2003), Rojas et al. (2007) phân tích tác động của lực hút matric $(u_a - u_w)$ và chỉ số dẻo $I_P$ đến $M_r$.
  • Thí nghiệm hiện trường và quan hệ tương quan: Ping và Ge (1996), Nguyễn Văn Thơ (1967), Raad và Zeid (1990), Mohammad et al. (1998, 1999), Rahim và George (1981), Kim, Kweon và Rhee (2001) đối chiếu thí nghiệm CPT, DCP, nén ba trục và bàn nén tĩnh.

Tại Mỹ, sáu công thức ước lượng $M_r$ thông dụng gồm: USDA (Carmichael và Stuart, 1986), Hyperbolic (Drumm et al., 1990), GDOT (Santha, 1994), TDOT (Pezo và Hudson, 1994), UCS (Lee et al., 1995), và ODOT (Bộ Giao thông Ohio, 1999).

Công thức Thông số đầu vào chính Ưu điểm Khuyết điểm
USDA (1986) Hệ USCS, $I_P, w, % S_{200}, \sigma_3, \sigma_d$ Xét đến $\sigma_3$, $I_P$, $w$, loại đất Quan hệ tuyến tính; $M_r$ giảm khi $I_P$ tăng (trái thực tế đất dính).
Hyperbolic (1990) $q_u, % \text{clay}, I_P, S_r, % S_{200}, a, W_L, \sigma_d$ Mô hình phi tuyến; xét $q_u, I_P, S_r$ Bỏ qua áp lực hông $\sigma_3$; $M_r$ giảm khi $\gamma_d$ tăng (nghịch lý).
GDOT (1994) $w, w_{opt}, \gamma_d, \gamma_{d\text{max}}, % \text{bụi}, % \text{sét}, % S_{200}, W_L, I_P, \sigma_d, P_a$ Phi tuyến; xét nhiều chỉ tiêu vật lý và áp suất khí trời $P_a$ Không xét $\sigma_3$; công thức phức tạp; hệ số cho độ chặt và $I_P$ bị âm.
TDOT (1994) $w, \gamma_d, \gamma_{d\text{max}}, I_P$, ngày tuổi, $\sigma_3, \sigma_d$ Xét $\sigma_3, I_P, w$ và ngày tuổi Biểu thức dạng tuyến tính; phạm vi thông số đầu vào hẹp.
UCS (1995) $S_u$ tại biến dạng trục 1%, $\sigma_3, \sigma_d$ Phi tuyến; cấu trúc công thức đơn giản Phụ thuộc hoàn toàn vào $S_u$ tại $\varepsilon=1%$; giới hạn dải ứng suất.
ODOT (1999) Chỉ số nhóm $GI$ ($% S_{200}, W_L, I_P$), chỉ số $CBR$ Đơn giản, dễ tra bảng tương quan Tuyến tính; bỏ qua hoàn toàn trạng thái ứng suất ($\sigma_3, \sigma_d$).

Vị trí của luận án là giải quyết khoảng trống học thuật: tích hợp đồng thời biến thiên độ ẩm và thành phần hạt mịn hơn 0,075 mm vào mô hình ước tính $M_r$ cho đất sét pha cát ĐBSCL, đồng thời kiểm chứng bằng mô hình nền đường ngập nước thực nghiệm so với thí nghiệm nén ba trục.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Luận án dựa trên lý thuyết đàn hồi cơ học đất không bão hòa và mô hình trạng thái ứng suất lặp:

  • Công thức định nghĩa mô đun đàn hồi: $$M_r = \frac{\sigma_d}{\varepsilon_r}$$
  • Mô hình ứng xử không bão hòa của Oh et al. (2006) có xét lực hút dính: $$E_{unsat} = E_{sat} \left[ 1 + \alpha \frac{u_a - u_w}{P_a} \left( S_r^\beta \right) \right]$$ với $\beta = 2$ cho đất dính, $\alpha$ biến thiên theo $I_P$ từ $1/20$ đến $1/3,2$.
  • Mô hình biến thiên độ ẩm của Li và Selig (1994) theo hai lộ trình: $$R_{m1} = \frac{M_r}{M_{r(opt)}} = 0,98 - 0,28(w - w_{opt}) + 0,029(w - w_{opt})^2 \quad (r^2 = 0,76)$$ $$R_{m2} = \frac{M_r}{M_{r(opt)}} = 0,96 - 0,18(w - w_{opt}) + 0,0067(w - w_{opt})^2 \quad (r^2 = 0,83)$$
  • Cấu trúc công thức Dong-Gyou Kim (2004) có dạng hàm số mũ phụ thuộc các bất biến ứng suất ($\sigma_3, \sigma_d$) kết hợp các hàm hệ số vật lý $a_n, b_n$.

Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm và phân tích dữ liệu bao gồm:

  1. Thu thập mẫu: Thu thập 30 mẫu đất sét pha cát từ thân nền các tuyến đường ngập lũ thuộc 3 tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang.
  2. Thí nghiệm trong phòng: Xác định thành phần hạt, giới hạn Atterberg ($W_L, W_P, I_P$), dung trọng khô lớn nhất, độ ẩm tối ưu ($w_{opt}$), cường độ nén nở hông ($q_u$). Chế bị mẫu ở các độ ẩm khác nhau và tiến hành thí nghiệm nén nhanh bằng buồng ba trục mô phỏng tải trọng xe tại 3 cấp áp lực hông ($\sigma_3 = 0, 21, 41\text{ kPa}$) và 5 cấp ứng suất lệch ($\sigma_d$).
  3. Mô hình thực nghiệm hiện trường: Xây dựng mô hình nền đường đắp đất sét pha cát được đầm nén bằng máy đào kết hợp lu 8 tấn ($v = 4\text{ km/h}$, 30 lượt/điểm). Tiến hành ngập lũ nhân tạo trong 30 ngày và thực hiện thí nghiệm bàn nén tải trọng tĩnh tại các mùa khô và ngập nước.
  4. Kỹ thuật phân tích: Lập trình phân tích hồi quy phi tuyến theo giải thuật Levenberg-Marquardt để tối ưu hóa bộ hệ số $a_n, b_n$.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về mô đun đàn hồi của nền đường

Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về mô đun đàn hồi $M_r$, làm rõ bản chất của biến dạng đàn hồi và biến dạng dư tích lũy dưới tác dụng của tải trọng trùng phục. Tác giả tổng thuật các yếu tố ảnh hưởng gồm: độ ẩm, độ bão hòa, độ chặt, ứng suất lệch, áp lực hông, lực hút dính, và thành phần hạt. Chương này đi sâu phân tích 6 mô hình tính toán phổ biến tại Mỹ (USDA, Hyperbolic, GDOT, TDOT, UCS, ODOT), chỉ rõ các hạn chế cố hữu như giả định tuyến tính hóa, bỏ qua áp lực hông $\sigma_3$, hoặc đưa ra mối quan hệ nghịch lý giữa $M_r$ với chỉ số dẻo và dung trọng khô. Từ đó, chương 1 khẳng định sự cần thiết phải nghiên cứu một công thức phù hợp cho vùng ĐBSCL.

Chương 2: Bản chất vật lý liên quan đến mô đun đàn hồi của nền đường đắp bằng đất sét pha cát theo độ ẩm và thành phần hạt mịn

Chương 2 phân tích bản chất liên kết giữa vỏ nước hút bám và hạt khoáng sét dạng bản. Khi $w$ thấp, sức căng bề mặt và lực liên kết ion làm tăng ứng suất hiệu quả, khiến $M_r$ đạt giá trị cao. Khi $w$ tăng vượt quá $w_{opt}$, chiều dày màng nước tăng đẩy các hạt đất rời xa, làm $M_r$ suy giảm mạnh (giảm trên 80% khi độ ẩm biến thiên quanh $w_{opt} \pm 2%$).

Chương này dẫn chứng nghiên cứu của Erdem Çöleri (2007) trên 75 mẫu đất A-6 và A-7-6: ở độ chặt $K=95%$ đến $100%$, $M_r$ phụ thuộc chủ yếu vào độ ẩm chứ ít biến động theo độ chặt. Cụ thể, khi ẩm tăng $w_{opt} + 2%$, $M_r$ giảm còn 70,3% (đối với đất A-6) và 75,0% (đối với đất A-7-6); khi khô hơn $w_{opt} - 2%$, $M_r$ tăng lên tương ứng 55,5% và 80,8%.

Phân tích 7 công thức theo nghiên cứu K. George (2004):
- Tỷ lệ hạt lọt sàng No.200 : thích hợp 6/7 công thức (mức độ ảnh hưởng bậc 1)
- Chỉ số dẻo (PI)           : thích hợp 6/7 công thức (mức độ ảnh hưởng bậc 2)
- Độ ẩm (w)                 : thích hợp 5/7 công thức (mức độ ảnh hưởng bậc 3)
- Giới hạn lỏng (LL)        : thích hợp 5/7 công thức (mức độ ảnh hưởng bậc 4)
- Dung trọng (γ)            : thích hợp 4/7 công thức (mức độ ảnh hưởng bậc 5)

Chương 2 cũng trình bày quy luật truyền ẩm một chiều của GS. Dương Học Hải (1971) trên nền đường ngập nước 45 ngày (QL.5) và ngập thường xuyên có mao dẫn (Nghệ Tĩnh), khẳng định thời gian ngập kéo dài làm ẩm độ vượt giới hạn lỏng. Trên cơ sở đó, tác giả lựa chọn cấu trúc công thức của Dong-Gyou Kim (2004) để hiệu chỉnh cho đất ĐBSCL.

Chương 3: Thí nghiệm xác định ảnh hưởng của độ ẩm và thành phần hạt mịn đến mô đun đàn hồi của nền đường đắp đất sét pha cát ở Đồng bằng sông Cửu Long

Chương 3 trình bày toàn bộ quy trình thu thập và thí nghiệm 30 mẫu đất tại Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang. Tác giả tiến hành xác định các chỉ tiêu cơ lý và chạy thí nghiệm nén ba trục nhanh với 3 cấp áp lực buồng ($\sigma_3 = 0, 21, 41\text{ kPa}$) và 5 cấp ứng suất lệch $\sigma_d$. Kết quả ghi nhận mối tương quan chặt chẽ giữa sự gia tăng tỷ lệ hạt mịn $< 0,075\text{ mm}$ (lọt sàng No.200) với mức độ suy giảm $M_r$. Đồng thời, chương trình thí nghiệm mô hình nền đường ngập lũ được xây dựng chi tiết, cho phép đo đạc biến dạng đàn hồi bằng bàn nén tải trọng tĩnh qua 30 ngày ngâm nước, cung cấp dữ liệu đối chứng thực tế.

Chương 4: Phân tích hồi qui theo giải thuật Levenberg - Marquardt và tương quan giữa thí nghiệm hiện trường với trong phòng

Chương 4 thiết lập chương trình tính toán tối ưu hóa phi tuyến theo giải thuật Levenberg-Marquardt nhằm xác định bộ hệ số $a_n, b_n$ cho đất sét pha cát ĐBSCL. Tác giả đối chiếu giá trị $M_r$ dự báo từ mô hình đề xuất với kết quả thí nghiệm nén nhanh ba trục trong phòng và thí nghiệm bàn nén tĩnh trên mô hình ngập lũ.

Kết quả phân tích cho thấy: tại cấp áp lực đứng thông dụng từ 142 kPa đến 198 kPa và độ ẩm xấp xỉ độ ẩm tối ưu ($w \approx w_{opt} = 16,3%$), giá trị mô đun đàn hồi thu được từ thí nghiệm bàn nén tĩnh hiện trường đạt từ 77,9% đến 98,5% giá trị $M_r$ ước tính từ công thức hồi quy. Tác giả cũng tiến hành so sánh đối chiếu kết quả với bảng quy định mô đun đàn hồi tĩnh trong tiêu chuẩn thiết kế áo đường mềm hiện hành 22 TCN 211-06.

Kết quả và những đóng góp mới

Luận án đạt được các kết quả khoa học và thực tiễn chính:

  • Đóng góp lý luận: Định lượng hóa mức độ ảnh hưởng đồng thời của độ ẩm ($w$) và hàm lượng hạt mịn lọt sàng No.200 ($< 0,075\text{ mm}$) đến mô đun đàn hồi $M_r$ của nền đất dính ĐBSCL. Chứng minh được rằng thành phần hạt mịn và chỉ số dẻo là hai tham số chi phối mạnh nhất đến độ nhạy cảm ẩm của $M_r$.
  • Đóng góp thực tiễn: Thiết lập thành công bộ hệ số hồi quy $a_n, b_n$ theo thuật toán Levenberg-Marquardt tích hợp vào công thức Dong-Gyou Kim (2004). Bộ hệ số này cho phép kỹ sư ước tính trực tiếp $M_r$ từ các chỉ tiêu vật lý cơ bản trong phòng thí nghiệm mà không bắt buộc phải thực hiện thí nghiệm bàn nén hiện trường hoặc đo cần Benkelman tốn kém.
  • Tương quan hiện trường - trong phòng: Xác định tỷ lệ tương quan thực nghiệm giữa bàn nén tải trọng tĩnh và nén ba trục trong phòng đạt từ 77,9% đến 98,5% ở dải áp lực 142 – 198 kPa quanh độ ẩm tối ưu 16,3%.
  • Đề xuất giải pháp: Cung cấp cơ sở định lượng để tính toán kiểm tra ổn định, hạn chế biến dạng và chống sạt lở nền đường đắp trong mùa ngập lũ tại ĐBSCL.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Các hạn chế được xác định theo phạm vi nghiên cứu của văn bản:

  • Kết quả nghiên cứu và bộ hệ số đề xuất chỉ áp dụng cho đất sét pha cát tại 3 tỉnh Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang; không áp dụng cho đất cát gia cố, đất sỏi đỏ hay các loại vật liệu địa phương khác.
  • Mô hình tương quan và công thức ước tính chỉ phù hợp trong điều kiện tải trọng tĩnh hoặc xe chạy tốc độ chậm dưới 40 km/h (khu vực bãi đỗ, nút giao thông).
  • Nghiên cứu chưa xét đến tác động hóa lý của độ pH trong nước lũ cũng như hiện tượng xâm nhập mặn khi mực nước biển dâng cao theo các kịch bản biến đổi khí hậu đến năm 2090.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần mở rộng khảo sát tải trọng động ở dải tốc độ cao hơn và tích hợp các yếu tố ăn mòn, mặn hóa vào mô hình suy giảm $M_r$.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu chuyên khảo có giá trị ứng dụng cao cho:

  • Kỹ sư thiết kế và tư vấn giao thông: Tham khảo phương pháp tính toán chiều dày kết cấu áo đường mềm vùng ngập lũ ĐBSCL bằng cách ước lượng nhanh $M_r$ qua các chỉ tiêu cơ lý đơn giản, giúp tiết kiệm chi phí khảo sát hiện trường.
  • Nghiên cứu sinh và giảng viên chuyên ngành Địa kỹ thuật - Công trình đường: Sử dụng dữ liệu thực nghiệm nén ba trục, thuật toán hồi quy Levenberg-Marquardt và quy trình xây dựng mô hình nền đường ngập nước làm tài liệu tham khảo cho các nghiên cứu tiếp theo.
  • Cơ quan quản lý giao thông địa phương: Sử dụng kết quả đánh giá mức độ suy giảm cường độ nền đất theo thời gian ngập lũ để xây dựng phương án hạn chế tải trọng, kiểm soát tốc độ phương tiện và phòng ngừa sự cố sạt lở nền đường trong mùa lũ.

Câu hỏi thường gặp

1. Mô đun đàn hồi ($M_r$) của đất dính được định nghĩa và xác định như thế nào trong luận án?
Mô đun đàn hồi $M_r$ được định nghĩa là tỉ số giữa ứng suất lệch tác dụng ($\sigma_d$) và biến dạng trục đàn hồi ($\varepsilon_r$) theo công thức $M_r = \sigma_d / \varepsilon_r$, được đo đạc sau khi biến dạng dẻo tích lũy của mẫu đất đã triệt tiêu dưới tác dụng của tải trọng lặp.

2. Độ ẩm và thành phần hạt mịn ảnh hưởng như thế nào đến giá trị $M_r$?
Độ ẩm thấp tạo ra lực hút mao dẫn và sức căng bề mặt giúp tăng $M_r$. Khi độ ẩm tăng vượt $w_{opt}$ (đặc biệt trong phạm vi $\pm 2%$), vỏ nước bao quanh hạt sét dày lên đẩy các hạt ra xa làm $M_r$ suy giảm tới hơn 80%. Đất có tỷ lệ hạt lọt sàng No.200 ($< 0,075\text{ mm}$) càng cao thì bề mặt riêng càng lớn, khả năng hút nước càng mạnh và mức độ suy giảm $M_r$ khi ngập lũ càng nghiêm trọng.

3. Mức độ tương quan giữa thí nghiệm bàn nén tĩnh hiện trường và ước tính từ phòng thí nghiệm là bao nhiêu?
Ở cấp áp lực đứng thông dụng từ 142 kPa đến 198 kPa và tại độ ẩm xấp xỉ độ ẩm tối ưu ($w \approx 16,3%$), giá trị $M_r$ đo từ thí nghiệm bàn nén tải trọng tĩnh trên mô hình ngập lũ đạt từ 77,9% đến 98,5% so với giá trị $M_r$ ước tính từ công thức hồi quy dựa trên thí nghiệm nén ba trục trong phòng.

4. Phạm vi áp dụng cụ thể của luận án là gì?
Kết quả luận án áp dụng cho nền đường đắp bằng đất sét pha cát tại các vùng ngập lũ ĐBSCL (cụ thể khảo sát tại Đồng Tháp, Long An, Tiền Giang), phục vụ tính toán cho phương tiện lưu thông tốc độ chậm dưới 40 km/h, khu vực giao lộ và bãi đỗ xe dưới điều kiện tải trọng tĩnh.

Kết luận

Luận án tiến sĩ kỹ thuật của tác giả Phan Quang Chiêu đã làm rõ quy luật suy giảm mô đun đàn hồi của nền đường đắp đất sét pha cát tại ĐBSCL dưới tác động của độ ẩm và thành phần hạt mịn hơn 0,075 mm. Bằng việc kết hợp thí nghiệm nén ba trục nhanh trong phòng, mô hình bàn nén tĩnh ngập lũ và giải thuật hồi quy Levenberg-Marquardt, công trình đã đề xuất thành công bộ hệ số cho công thức ước tính mô đun đàn hồi phục vụ thiết kế nền đường mềm. Đây là cơ sở khoa học và thực tiễn quan trọng giúp kiểm soát biến dạng, ngăn ngừa hư hỏng sạt lở kết cấu đường bộ trong điều kiện ngập lũ định kỳ tại khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.