Luận án tiến sĩ về ảnh hưởng của vết nứt tới ổn định và dao động của kết cấu tấm FGM

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của vết nứt đến ổn định và dao động của kết cấu tấm FGM, cung cấp kiến thức chuyên sâu trong cơ kỹ thuật.

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Cơ kỹ thuật

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2023

119
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Tính cấp thiết của đề tài

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.3. Đối tượng nghiên cứu

1.4. Phương pháp nghiên cứu

1.5. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của nghiên cứu

1.7. Cấu trúc của luận án

2. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ỔN ĐỊNH VÀ DAO ĐỘNG CỦA TẤM FGM

2.1. Tổng quan về vật liệu composite FGM

2.2. Tổng quan về tình hình nghiên cứu ổn định của kết cấu tấm FGM có vết nứt

2.3. Tổng quan về tình hình nghiên cứu dao động của kết cấu tấm FGM có vết nứt

2.4. Định hướng nghiên cứu

3. CHƯƠNG 2: XÂY DỰNG CÁC PHƯƠNG TRÌNH DỰA TRÊN LÝ THUYẾT TẤM, LÝ THUYẾT PHASE FIELD VÀ PHƯƠNG PHÁP PHẦN TỬ HỮU HẠN

3.1. Các phương trình cơ bản

3.2. Sử dụng lý thuyết phase field trong bài toán tấm có vết nứt

3.3. Xây dựng phương trình ổn định, dao động của tấm có vết nứt bằng phương pháp phần tử hữu hạn

3.3.1. Phân tích nhờ cố

3.3.2. Phương trình ổn định của tấm có vết nứt

3.3.3. Phương trình dao động của tấm có vết nứt

3.3.4. Điều kiện biên theo phương pháp phần tử hữu hạn

3.4. Kết luận chương 2

4. CHƯƠNG 3: PHÂN TÍCH ỔN ĐỊNH CỦA KẾT CẤU TẤM FGM CÓ NỨT

4.1. Ổn định của kết cấu tấm đồng chất có nứt

4.2. Ổn định của kết cấu tấm FGM có nứt

4.2.1. Hệ số ổn định của tấm không nứt với độ dày thay đổi theo hàm lũy thừa

4.2.2. Hệ số ổn định của tấm đồng chất có nứt với chiều dày thay đổi tuyến tính

4.2.3. Hệ số ổn định của tấm FGM nứt với chiều dày không đổi

4.2.4. Hệ số ổn định của tấm FGM bị nứt với sự thay đổi chiều dày

4.3. Ổn định của kết cấu tấm FGM có nứt trên nền đàn hồi Pasternak

4.3.1. So sánh hệ số ổn định của tấm FGM không nứt trên nền đàn hồi

4.3.2. Ổn định của tấm FGM có nứt trên nền đàn hồi

4.4. Kết luận chương 3

5. CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH DAO ĐỘNG TỰ DO CỦA KẾT CẤU TẤM FGM CÓ VẾT NỨT

5.1. Dao động tự do của kết cấu tấm FGM có vết nứt

5.1.1. Dao động tự do của tấm đồng chất có chiều dày thay đổi

5.1.2. Dao động tự do của tấm FGM chiều dày không đổi, có vết nứt

5.1.3. Dao động tự do của tấm FGM chiều dày thay đổi, có vết nứt

5.1.4. Dao động của kết cấu tấm FGM có nứt đặt trên nền đàn hồi

5.1.5. Tần số dao động tự do của tấm FGM có nứt đặt trên nền đàn hồi

5.1.6. Dao động của kết cấu tấm FGM có nứt trong môi trường nhiệt độ

5.2. Nghiên cứu so sánh

5.3. Kết quả chính của chương này thể hiện trong các bài báo

NHỮNG VẤN ĐỀ CÓ THỂ PHÁT TRIỂN TỪ LUẬN ÁN

DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về vật liệu composite FGM

Vật liệu composite FGM (Functionally Graded Material) là một loại vật liệu mới, được phát triển lần đầu tiên vào năm 1984 bởi nhóm nghiên cứu tại viện Sendai, Nhật Bản. Vật liệu này được tạo thành từ hai loại vật liệu chính là gốm và kim loại, với tỷ lệ thể tích của mỗi thành phần biến đổi liên tục từ mặt này sang mặt kia. Điều này giúp vật liệu FGM có những đặc tính nổi bật như độ cứng cao và khả năng chịu nhiệt tốt, làm cho nó trở thành lựa chọn lý tưởng cho các ứng dụng trong môi trường khắc nghiệt như trong ngành hàng không, lò phản ứng nhiệt hạch, và các thiết bị luyện kim. Việc nghiên cứu về vật liệu FGM không chỉ giúp cải thiện khả năng chịu tải mà còn mở ra nhiều hướng nghiên cứu mới trong lĩnh vực cơ học vật liệu. Đặc biệt, sự tồn tại của các vết nứt trong vật liệu FGM có thể ảnh hưởng lớn đến tính ổn định và dao động của kết cấu, điều này càng làm tăng tính cấp thiết của việc nghiên cứu ảnh hưởng của vết nứt đến các đặc tính này.

1.1. Tính chất của vật liệu FGM

Vật liệu FGM có những tính chất đặc trưng như mô đun đàn hồi cao, hệ số truyền nhiệt thấp và khả năng kháng nhiệt tốt. Những tính chất này giúp vật liệu FGM có thể hoạt động hiệu quả trong các điều kiện khắc nghiệt. Cụ thể, thành phần gốm trong vật liệu FGM giúp tăng cường độ cứng và khả năng chịu nhiệt, trong khi thành phần kim loại cung cấp độ bền và tính dẻo. Sự kết hợp này tạo ra một vật liệu có khả năng chống chịu tốt với các tải trọng khác nhau, đồng thời giảm thiểu nguy cơ rạn nứt do tính giòn của gốm. Việc nghiên cứu các tính chất này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về vật liệu FGM mà còn hỗ trợ trong việc thiết kế các kết cấu an toàn và hiệu quả hơn.

II. Ảnh hưởng của vết nứt đến ổn định kết cấu

Vết nứt trong kết cấu tấm FGM có thể gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính ổn định của kết cấu. Nghiên cứu cho thấy rằng sự hiện diện của vết nứt làm giảm đáng kể hệ số ổn định của tấm, đặc biệt là khi chiều dài và góc nghiêng của vết nứt thay đổi. Các phương trình mô tả sự ổn định của tấm FGM có vết nứt được xây dựng dựa trên lý thuyết phase-field và phương pháp phần tử hữu hạn. Kết quả cho thấy rằng hệ số ổn định của tấm FGM nứt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiều dày, chiều dài vết nứt và điều kiện biên. Việc phân tích này không chỉ giúp đánh giá khả năng chịu tải của kết cấu mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc thiết kế và bảo trì các kết cấu sử dụng vật liệu FGM.

2.1. Phân tích ổn định của tấm FGM có vết nứt

Phân tích ổn định của tấm FGM có vết nứt cho thấy rằng các yếu tố như chiều dày tấm và vị trí của vết nứt có ảnh hưởng lớn đến khả năng chịu tải của kết cấu. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng khi chiều dài vết nứt tăng lên, hệ số ổn định của tấm giảm xuống, dẫn đến nguy cơ mất ổn định cao hơn. Điều này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc kiểm soát và đánh giá các vết nứt trong quá trình thiết kế và thi công các kết cấu FGM. Việc sử dụng các phương pháp tính toán hiện đại như phương pháp phần tử hữu hạn giúp xác định chính xác các thông số này, từ đó đưa ra các giải pháp thiết kế an toàn và hiệu quả hơn.

III. Phân tích dao động của kết cấu tấm FGM có vết nứt

Phân tích dao động tự do của kết cấu tấm FGM có vết nứt là một phần quan trọng trong việc đánh giá khả năng làm việc của kết cấu. Nghiên cứu cho thấy rằng vết nứt không chỉ ảnh hưởng đến tần số dao động mà còn làm thay đổi các dạng dao động của tấm. Các phương trình mô tả dao động của tấm FGM có vết nứt được xây dựng dựa trên lý thuyết cơ học và phương pháp phần tử hữu hạn. Kết quả cho thấy rằng tần số dao động tự do của tấm FGM có vết nứt giảm so với tấm không nứt, điều này cho thấy rằng vết nứt làm giảm khả năng chịu tải của kết cấu. Việc phân tích này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về hành vi dao động của tấm FGM mà còn cung cấp thông tin quan trọng cho việc thiết kế và bảo trì các kết cấu trong thực tế.

3.1. Tần số dao động tự do của tấm FGM có vết nứt

Tần số dao động tự do của tấm FGM có vết nứt phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chiều dài vết nứt, chiều dày tấm và điều kiện biên. Nghiên cứu cho thấy rằng khi chiều dài vết nứt tăng lên, tần số dao động tự do giảm xuống, điều này cho thấy rằng vết nứt làm giảm khả năng chịu tải của kết cấu. Việc sử dụng các phương pháp tính toán hiện đại giúp xác định chính xác các tham số này, từ đó đưa ra các giải pháp thiết kế an toàn và hiệu quả hơn. Kết quả nghiên cứu có thể được áp dụng trong thực tế để cải thiện độ bền và tính ổn định của các kết cấu sử dụng vật liệu FGM.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TONG QUAN VE ON ĐỊNH VA DAO ĐỘNG CUA TÁM FGM 1. Téng quan về vật liệu composite FGM Vat liệu composite FGM là một loại composite thé hệ mới được một nhóm các nhà khoa học ở viện Sendai (Nhật Bản) nghiên cứu và phát triển lần đầu tiên vào năm 1984, có tên quốc tế: Functionally Graded Material (được viết tắt phd biến là FGM), còn có tên gọi khác như: vật liệu composite có cơ tính biến thiên, vật liệu cơ tính biến thiên, vật liệu FGM. Vật liệu này ra đời được xuất phát từ yêu cầu thực tế của các ngành công nghiệp hiện đại về một loại vật liệu tiên tiến có chức năng thông minh va có thê chống chịu tốt với các điều kiện khắt khe của nhiều loại tải trọng. Vật liệu FGM thường được tạo thành từ hai loại vật liệu thành phần là gốm và kim loại trong đó tỷ lệ thé tích của mỗi thành phan biến đổi (graded) một cách trơn và liên tục từ mặt này sang mặt kia theo một chiều kết cấu cho phù hợp với thế mạnh đặc trưng của các vật liệu thành phần.

Do có mô đun đàn hồi (E) cao cùng với hệ sỐ truyền nhiệt và hệ số dãn nở nhiệt rất thấp nên thành phần gốm làm cho vật liệu FGM có độ cứng cao và khả năng kháng nhiệt tốt hơn. Trong khi thành phần kim loại làm cho vật liệu FGM trở nên bền hơn, mềm dẻo hơn và hạn chế sự rạn nứt có thé xảy ra do tính giòn của vật liệu gốm khi chịu nhiệt cao.1 thể hiện tính chất của một số vật liệu thành phần được sử dụng dé chế tạo vật liệu FGM [1, 2, 5]. Tính chất của một số vật liệu thành phần của vật liệu FGM Vật liệu Các tính chất E (N/m?) V (C3) KW/mK) — p(kglm'`) Nhôm (AI) 70x10? 0.4 3750 Vật liệu FGM có đặc tính nỗi bật là độ cứng cao và khả năng chịu nhiệt rat tốt. Vì vậy, vật liệu này là sự lựa chọn lý tưởng trong các ứng dụng của các kêt câu làm 4 việc trong các điều kiện khắc nghiệt như máy bay, tên lửa, các thiết bị luyện kim, dầu khí, cũng như các lò phản ứng nhiệt hạch, lò phản ứng hạt nhan,.

Vật liệu FGM được cấu tạo từ hai loại vật liệu thành phan theo tỉ lệ thé tích. Đó là tỉ lệ thé tích của mỗi pha (vật liệu) thay đổi theo một chiều hoặc hai chiều hoặc ba chiều x, y, z. Do đó các tinh chất của vật liệu FGM cũng thay đổi theo các hướng này. Trong luận án này, tác giả chỉ xét loại vật liệu biến đổi theo chiều trục z (độ dày tam), từ mặt hoàn toàn gốm sang mặt hoàn toàn kim loại.

Có hai cách tiếp cận mô hình vật liệu FGM. Cách thứ nhất, sắp xếp từng lớp theo tỉ phan thé tích của gốm hoặc kim loại, khi đó vật liệu FGM được cấu thành từ nhiều lớp rất mỏng và trong mỗi lớp này tỉ phần thể tích của các vật liệu là không thay đổi. Cách thứ hai, thay đổi liên tục tỉ phần thể tích của gốm hoặc kim loại theo bề dày thành kết cầu A theo một hàm lũy thừa của biến theo chiều dày z, cách sắp xếp này rất phô biến hiện nay [5, 6, 7]. Có 3 loại vật liệu cơ tính biến thiên chủ yếu [2].

Vật liệu P-FGM. Là loại vật liệu trong đó tỷ lệ thé tích của các thành phan kim loại và gốm biến đổi một cách trơn, liên tục từ bề mặt này sang bề mặt kia theo chiều dày của kết cau. Đối với P-FGM, một bề mặt giàu kim loại và một bề mặt giàu gốm. Trong một đơn vị thể tích kết cau chứa ti phan thê tích gồm V và ti phan thé tích kim loại V,, tức là: V.+V, =1, trong đó tỉ phan thé tích gốm được giả thiết biến đổi theo chiều dày thành kết cấu Z# theo một hàm lũy thừa của biến chiều dày thành kết cấu z (quy luật hàm lũy thừa — Power law) như sau: 1 V.1 với N là một số không âm được gọi là chỉ số ty lệ thé tích (volume fraction index) có thê được chọn để tối ưu ứng xử của kết cấu và các chỉ số dưới ¢ và m dé chỉ thành phần gốm (ceramic) và kim loại (metal) tương ứng.

Rõ ràng ứng với giá trị n =0 tương ứng với tắm đồng nhất đắng hướng được làm từ vật liệu gồm, n =1 là trường hợp các thành phần gốm va kim loại phân bồ tuyến tính qua chiều dày thành kết câu và khi 11 tăng thì tỷ lệ thé tích của thành phan kim loại trong kết cấu tăng. 5 Hàm đặc trưng P(z) xác định thuộc tính của vật liệu có cơ tính biến thiên được biểu diễn như sau: P(z)= P. (12) trong đó: P(z) là ký hiệu một tính chat cụ thé của vật liệu FGM như mô dun đàn hồi E, hệ số Poison V , hệ số dan nở nhiệt @ hoặc hệ số truyền nhiệt K tại vị trí z. P, P„ là đặc trưng tương ứng của vật liệu thành phần gốm, kim loại.2) ta nhận được biéu thức sau đây của các thuộc tính vật liệu.=?,)|S+‡] +, (13) Theo quy luật phân bồ lũy thừa nay thì mặt z =/2 của kết cau là gốm thuần túy và mặt z=—h/2 là kim loại thuần túy và tính chất vật liệu hiệu dụng biến đôi một cách liên tục, trơn từ mặt này sang mặt kia theo chiều dày kết cấu.

Cụ thé, biéu thức mô đun đàn hồi E , hệ số dan nở nhiệt @ và hệ số truyền nhiệt K được biêu diễn như sau E(z) E., |\\2 ñh v(Z) Vin Von rs _ ` h h với E,,, =E. 2 2 Vật liệu S-FGM. Đối với vật liệu S-FGM, kết cau được bao bọc bởi các mặt ngoài giàu gốm và mặt giữa giàu kim loại (hoặc ngược lại, hai mặt ngoài giàu kim loại với mặt giữa là gốm). Tỷ lệ thé tích của các thành phan kim loại và gốm, V và V„ được giả thiết biến đổi theo quy luật hàm lũy thừa của biến chiều dày z theo quy luật ham Sigmoid (sử dụng quy luật hàm mũ cho 2 miền) như sau: 2#] .0<z<h/2 Theo quy luật phân bồ vật liệu (1.5) khi =0 kết câu thuần nhất kim loại, còn khi n=1 các thành phần vật liệu gốm và kim loại trong kết cấu phân bố tuyến tính qua chiều dày và khi ø tăng tỷ lệ gốm trong kết cấu FGM tăng.

Các thuộc tinh vật liệu P(z) của kết cau S-FGM cũng tuân theo quy tắc hỗn hợp như (1.2) ta nhận được biểu thức sau của tính chất hiệu dụng E@)] [E,] [E„ “) ,—hl2<z<0 a(z) = a, + Qem ' (1.0<:<2 Từ biểu thức (1.6) ta thấy, tại z=+h/2 thì kết câu thuần túy là gốm, tại z=0 kết cầu thuần túy là kim loại. Vật liệu E-FGM. Trong vật liệu loại E-FGM thì mô-đun dan hồi của loại vật liệu chức năng này được giả thiết tuân theo quy luật hàm siêu việt (hàm e mũ): E(z) _ Aen?) | (1.8) E, là mô-đun đàn hồi của kết cấu ở mặt trên (z = h/2). E, là mô-đun đàn héi của kết cầu ở mặt dưới (s =—h/ 2).

Trong giới hạn của luận án, tác giả chỉ nghiên cứu về loại vật liệu P-FGM. Vật liệu P-FGM là vật liệu khá thông dụng và được chú ý nhiều hơn, do đó nếu không có gì đặc biệt (tức là không phải S-FGM hay E-FGM) thi sẽ được gọi chung là vật liệu FGM. 7 Tính chat vật liệu phụ thuộc vào nhiệt độ Thành phan kim loại làm cho vật liệu chức năng có tính dẻo dai, hạn chế sự rạn nứt nếu có xảy ra do tính giòn của gốm và trong môi trường nhiệt độ cao. Trong khi đó thành phần gốm với mô đun đàn hồi cao và các hệ số dãn nở nhiệt và truyền nhiệt rất thấp làm cho vật liệu chức năng có độ cứng cao và rất trơ với nhiệt.

Xuất phát từ ứng dụng của các vật liệu có cơ tính biến thiên thường được sử dụng cho các kết cấu làm việc trong những môi trường nhiệt độ rất cao hoặc truyền nhiệt lớn, nơi mà các tính chất cơ học của các thành phần vật liệu bi thay đôi đáng kế, do đó cần thiết phải xem xét sự phụ thuộc của cơ tính vật liệu vào nhiệt độ dé dự đoán chính xác các đáp ứng cơ học. Hệ số nhiệt độ của một số loại vật liệu thành phan của vật liệu FGM Vật liệu Thông số P, P, b b P, E(Pa) 348. 0 0 0 0 Các tinh chất hiệu dụng P, của vật liệu là một hàm phụ thuộc vào nhiệt độ, chúng có thể được mô tả như một hàm phi tuyén của nhiệt độ [2] P.9) ở đây P, P,, P, P,, P, là các hệ số nhiệt độ T (đơn vị K ) của từng các vật liệu thành phần. Các tính chất vật liệu thường được tính toán ở điều kiện nhiệt độ phòng 7 =300K.2 ở trên thé hiện các hệ số trong công thức (1.9) của một số loại vật liệu dùng đề chế tạo vật liệu FGM [2, 5].

Hiện nay tình hình nghiên cứu về ứng xử của kết cấu FGM vẫn đang diễn ra sôi động, điều này xuất phát từ nhu cầu sử dụng ngày càng nhiều của loại vật liệu này trong các ngành công nghiệp hiện đại. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất hoặc sử dụng loại vật liệu này có thể xuất hiện những khuyết tật không mong muốn như vết nứt, điều đó làm ảnh hưởng đến sự làm việc của kết cấu. Do đó, việc nghiên cứu ảnh hưởng của vết nứt trong vật liệu FGM đóng vai trò then chốt trong việc hiểu đặc tính phá huỷ của vật liệu FGM cũng như đảm bảo tính an toàn khi sử dụng loại vật liệu này. Tổng quan về tình hình nghiên cứu 6n định của kết cu tam FGM có nứt Kết cầu tắm bằng vật liệu FGM đã được phát triển trong một thời gian dài và được ứng dụng trong nhiều lĩnh vực bài toán kỹ thuật do những ưu điểm vượt trội của chúng.

Tuy nhiên, trong quá trình sử dụng thực tế các ứng xử của chúng ảnh hưởng tới khả năng làm việc vẫn chưa được nghiên cứu một cách toàn diện. Do vật liệu FGM thường được sử dụng trong các điều kiện làm việc khắc nghiệt như chịu tải trọng lớn hoặc trong môi trường nhiệt độ cao. Do đó, kết cầu có thể xuất hiện các khuyết tật như vết nứt làm thay đổi hình dang cũng như độ bền của kết cấu. Ngoài ra, khi tắm có vết nứt mà lại chịu tác động của tải trọng thì tốc độ mat ôn định sẽ nhanh hơn so với tam không bị nứt.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu ảnh hưởng của vết nứt đến ổn định và dao động của kết cấu tấm FGM" cung cấp cái nhìn sâu sắc về cách mà các vết nứt có thể tác động đến tính ổn định và dao động của các kết cấu tấm vật liệu chức năng biến đổi (FGM). Nghiên cứu này không chỉ giúp các kỹ sư và nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến độ bền của kết cấu mà còn mở ra hướng đi mới trong việc thiết kế và cải tiến các sản phẩm kỹ thuật.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật cơ khí nghiên cứu hệ thống truyền động thủy lực servo cho hệ thống nhiều xi lanh dùng van độc lập, nơi bạn sẽ tìm thấy thông tin về các hệ thống truyền động hiện đại. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng chẩn đoán tổn hao lực căng cáp cho trụ angten sử dụng đáp ứng trở kháng có xét đến ảnh hưởng của nhiệt độ cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn về các phương pháp chẩn đoán và đánh giá độ bền của kết cấu. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ kỹ thuật cơ điện tử nghiên cứu điều khiển hệ thống vận chuyển có nhiều trạm, giúp bạn nắm bắt các ứng dụng thực tiễn trong lĩnh vực cơ điện tử.

Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các khía cạnh khác nhau của kỹ thuật và công nghệ hiện đại.