Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của tuần hoàn khí thải đến các chỉ tiêu kỹ thuật và môi trường của động cơ diesel phun nhiên liệu điện tử khi sử dụng diesel sinh học b10 và b20

Luận án tiến sĩ phân tích ảnh hưởng của tuần hoàn khí thải đến hiệu suất và môi trường động cơ diesel sử dụng diesel sinh học B10 và B20.

Trường đại học

Học viện Kỹ thuật Quân sự

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2019

197
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. MỞ ĐẦU

1.1. Mục đích nghiên cứu của luận án

1.2. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3. Phương pháp nghiên cứu của luận án

1.4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

1.5. Bố cục của luận án

2. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

2.1. Tổng quan về hệ thống tuần hoàn khí thải trên động cơ

2.2. Lịch sử nghiên cứu và phát triển hệ thống tuần hoàn khí thải

2.3. Vai trò của hệ thống tuần hoàn khí thải

2.4. Phân loại hệ thống tuần hoàn khí thải

2.4.1. Theo áp suất của dòng khí tuần hoàn

2.4.2. Theo nhiệt độ dòng khí tuần hoàn

2.4.3. Theo phương pháp điều khiển van tuần hoàn

2.5. Các phương pháp xác định tỷ lệ tuần hoàn khí thải

2.6. Một số lưu ý khi sử dụng hệ thống tuần hoàn khí thải

2.7. Tổng quan về nhiên liệu sinh học

2.8. Tình hình sử dụng nhiên liệu diesel sinh học

2.9. Sự thay đổi thuộc tính của hỗn hợp biodiesel theo tỷ lệ pha trộn

2.10. Ảnh hưởng của biodiesel đến chỉ tiêu tiêu kinh tế, năng lượng và môi trường

2.11. Ảnh hưởng của thuộc tính nhiên liệu đến thuộc tính dòng khí thải

2.12. Tình hình nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ tuần hoàn khí thải và nhiên liệu sử dụng đến chỉ tiêu kinh tế, năng lượng, môi trường của động cơ

2.12.1. Trên thế giới

2.12.1.1. Trên động cơ dùng hệ thống phun nhiên liệu kiểu cơ khí
2.12.1.2. Trên động cơ dùng hệ thống phun nhiên liệu kiểu CR

2.12.2. Nghiên cứu tối ưu và điều chỉnh tỷ lệ tuần hoàn khí thải

2.12.3. Tại Việt Nam

2.13. Lựa chọn đối tượng nghiên cứu và loại nhiên liệu sử dụng

2.14. Trình tự và hướng nghiên cứu của đề tài

2.15. Kết luận Chương 1

3. CƠ SỞ LÝ THUYẾT TÍNH TOÁN MÔ PHỎNG CHU TÌNH CÔNG TÁC CỦA ĐỘNG CƠ

3.1. Lựa chọn phần mềm tính toán

3.2. Cơ sở tính toán chu trình công tác của động cơ

3.3. Mô hình vật lý của định luật nhiệt động học thứ nhất áp dụng cho động cơ đốt trong

3.4. Mô hình cháy

3.4.1. Mô hình Vibe

3.4.2. Mô hình Double Vibe

3.4.3. Mô hình Vibe hai vùng

3.4.4. Mô hình MCC

3.5. Mô hình truyền nhiệt

3.5.1. Mô hình truyền nhiệt trong xi lanh

3.5.2. Truyền nhiệt ở các quá trình trao đổi khí

3.6. Mô hình tính toán các thành phần khí thải của động cơ

3.6.1. Mô hình tính toán NOx

3.6.2. Mô hình tính toán Soot (bồ hóng)

3.7. Kết luận Chương 2

4. NGHIÊN CỨU MÔ PHỎNG ĐỘNG CƠ CÓ TUẦN HOÀN KHÍ THẢI VÀ SỬ DỤNG BIODIESEL

4.1. Xác định thông số đầu vào phục vụ cho quá trình xây dựng mô hình

4.2. Các thông số về kết cấu của động cơ

4.3. Nhóm các thông số về hệ thống nạp, thải của động cơ

4.4. Các thông số vận hành của động cơ

4.5. Các thông số về quy luật cung cấp nhiên liệu

4.6. Xây dựng mô hình mô phỏng CTCT của động cơ có xét đến ảnh hưởng của tuần hoàn khí thải và loại nhiên liệu sử dụng

4.7. Đánh giá và hiệu chỉnh mô hình

4.7.1. Hiệu chỉnh các tham số trong mô hình cháy

4.7.2. Mô hình Double Vibe

4.7.3. Mô hình Vibe hai vùng

4.7.4. Mô hình MCC

4.8. Lựa chọn bộ thông số phù hợp cho việc tính toán pcyl

4.9. Hiệu chỉnh theo chỉ tiêu kinh tế, năng lượng của động cơ tại đường đặc tính ngoài

4.10. Ảnh hưởng của tỷ lệ tuần hoàn khí thải đến diễn biến áp suất và nhiệt độ bên trong xi lanh

4.11. Ảnh hưởng của tỷ lệ tuần hoàn đến tốc độ tỏa nhiệt và quy luật cháy

4.12. Ảnh hưởng của tỷ lệ tuần hoàn đến tốc độ hình thành NOx và Soot

4.13. Ảnh hưởng của tỷ lệ tuần hoàn khí thải đến chỉ tiêu kinh tế, năng lượng của động cơ khi sử dụng nhiên liệu B10, B20

4.14. Ảnh hưởng của tỷ lệ tuần hoàn khí thải đến phát thải NOx, PM của động cơ khi sử dụng nhiên liệu B10, B20

4.15. Kết luận Chương 3

5. NGHIÊN CỨU THỰC NGHIỆM

5.1. Mục đích, chế độ và đối tượng thử nghiệm

5.2. Chế độ thực nghiệm

5.3. Hiệu chỉnh mô hình lý thuyết

5.4. Xác định quy luật thay đổi %EGR của động cơ nguyên thủy trong toàn vùng làm việc

5.5. Đánh giá ảnh hưởng của %EGR đến chỉ tiêu kinh tế, năng lượng và môi trường của động cơ

5.6. Đối tượng thực nghiệm

5.7. Trang thiết bị phục vụ nghiên cứu thực nghiệm

5.8. Kết quả xác định quy luật thay đổi của tỷ lệ EGR khi động cơ sử dụng ECU nguyên thủy trong toàn vùng làm việc

5.9. Kết quả xác định quy luật thay đổi của tỷ lệ tuần hoàn khí thải

5.10. Giới hạn ảnh hưởng của tỷ lệ EGR đến thông số vận hành và phát thải của động cơ

5.11. Kết quả đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ EGR và loại nhiên liệu sử dụng đến một số thuộc tính của dòng khí thải

5.12. Ảnh hưởng của tỷ lệ EGR và loại nhiên liệu sử dụng đến chỉ tiêu kinh tế, năng lượng

5.13. Ảnh hưởng của tỷ lệ EGR và loại nhiên liệu sử dụng phát thải NOx và PM

5.14. Cơ sở để lựa chọn tỷ lệ EGR mới cho động cơ khi sử dụng B10, B20

5.15. Kết luận Chương 4

KẾT LUẬN VÀ HƯỚNG PHÁT TRIỂN

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH ĐÃ CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về tuần hoàn khí thải

Tuần hoàn khí thải (EGR) là một công nghệ quan trọng trong việc giảm phát thải ô nhiễm từ động cơ diesel. Hệ thống này hoạt động bằng cách đưa một phần khí thải trở lại đường nạp, làm giảm nồng độ oxy trong hỗn hợp cháy. Điều này giúp giảm nhiệt độ cực đại trong quá trình cháy, từ đó giảm phát thải NOx. Nghiên cứu cho thấy rằng việc tối ưu hóa tỷ lệ tuần hoàn khí thải có thể cải thiện hiệu suất động cơ. Theo các tài liệu, việc áp dụng EGR không chỉ giúp giảm ô nhiễm mà còn có thể cải thiện hiệu suất nhiên liệu. Tuy nhiên, việc sử dụng EGR cũng cần phải cân nhắc đến các yếu tố như loại nhiên liệu sử dụng, trong đó diesel sinh học B10 và B20 được xem là những lựa chọn tiềm năng.

1.1. Lịch sử nghiên cứu và phát triển hệ thống EGR

Hệ thống EGR đã được nghiên cứu và phát triển từ những năm 1970 nhằm đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải ngày càng nghiêm ngặt. Các nghiên cứu ban đầu tập trung vào việc giảm phát thải NOx, nhưng sau đó đã mở rộng sang các vấn đề khác như hiệu suất động cơ và tác động đến môi trường. Việc áp dụng EGR đã chứng minh hiệu quả trong việc giảm ô nhiễm, tuy nhiên, cần có các nghiên cứu sâu hơn để tối ưu hóa hệ thống này cho các loại động cơ khác nhau.

II. Ảnh hưởng của nhiên liệu sinh học đến hiệu suất động cơ

Nhiên liệu sinh học, đặc biệt là diesel sinh học B10 và B20, đã trở thành một lựa chọn phổ biến trong ngành công nghiệp ô tô. Các nghiên cứu cho thấy rằng việc sử dụng nhiên liệu sinh học có thể cải thiện hiệu suất động cơ và giảm phát thải khí độc hại. Cụ thể, B10 và B20 không chỉ giúp giảm lượng khí thải CO2 mà còn cải thiện chỉ tiêu kinh tế của động cơ. Tuy nhiên, hiệu suất của động cơ cũng phụ thuộc vào tỷ lệ pha trộn và các điều kiện vận hành. Việc nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ EGR khi sử dụng nhiên liệu sinh học là cần thiết để tối ưu hóa hiệu suất động cơ và giảm thiểu ô nhiễm.

2.1. Tác động của nhiên liệu sinh học đến chỉ tiêu kinh tế

Việc sử dụng diesel sinh học B10 và B20 đã cho thấy sự cải thiện đáng kể về chỉ tiêu kinh tế của động cơ. Các nghiên cứu chỉ ra rằng động cơ sử dụng nhiên liệu sinh học có thể đạt được hiệu suất cao hơn so với động cơ sử dụng nhiên liệu truyền thống. Điều này không chỉ giúp giảm chi phí nhiên liệu mà còn góp phần bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, cần có các nghiên cứu thực nghiệm để xác định chính xác mức độ cải thiện này trong các điều kiện vận hành khác nhau.

III. Phân tích hiệu suất động cơ khi sử dụng EGR

Phân tích hiệu suất động cơ khi sử dụng hệ thống EGR cho thấy rằng tỷ lệ tuần hoàn khí thải có ảnh hưởng lớn đến hiệu suất động cơ. Việc tối ưu hóa tỷ lệ EGR có thể giúp giảm phát thải NOx mà không làm giảm hiệu suất động cơ. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc điều chỉnh tỷ lệ EGR có thể cải thiện đáng kể các chỉ tiêu kinh tế và năng lượng của động cơ. Đặc biệt, khi sử dụng diesel sinh học B10 và B20, hiệu suất động cơ có thể được cải thiện hơn nữa nhờ vào các đặc tính hóa học của nhiên liệu. Điều này mở ra hướng nghiên cứu mới trong việc phát triển các hệ thống EGR hiệu quả hơn.

3.1. Đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ EGR đến phát thải

Nghiên cứu cho thấy rằng tỷ lệ EGR có thể ảnh hưởng trực tiếp đến mức phát thải NOx và PM của động cơ. Việc tăng tỷ lệ EGR thường dẫn đến giảm phát thải NOx, nhưng cũng có thể làm tăng phát thải PM. Do đó, cần có sự cân nhắc kỹ lưỡng trong việc điều chỉnh tỷ lệ EGR để đạt được sự cân bằng giữa hiệu suất động cơ và phát thải ô nhiễm. Các nghiên cứu thực nghiệm cần được thực hiện để xác định tỷ lệ EGR tối ưu cho các loại nhiên liệu khác nhau.

IV. Kết luận và hướng phát triển

Nghiên cứu về ảnh hưởng của tuần hoàn khí thải đến hiệu suất động cơ diesel sử dụng diesel sinh học B10 và B20 đã chỉ ra rằng việc tối ưu hóa hệ thống EGR có thể mang lại nhiều lợi ích. Việc sử dụng nhiên liệu sinh học không chỉ giúp giảm phát thải ô nhiễm mà còn cải thiện hiệu suất động cơ. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên tập trung vào việc phát triển các công nghệ EGR mới và tối ưu hóa tỷ lệ EGR cho các loại động cơ khác nhau. Điều này sẽ góp phần quan trọng trong việc phát triển các giải pháp bền vững cho ngành công nghiệp ô tô.

4.1. Đề xuất nghiên cứu tiếp theo

Cần thực hiện các nghiên cứu sâu hơn về ảnh hưởng của tỷ lệ EGR và loại nhiên liệu đến hiệu suất động cơ. Các nghiên cứu này nên bao gồm các thử nghiệm thực nghiệm để xác định chính xác các chỉ tiêu kinh tế, năng lượng và môi trường. Đồng thời, việc phát triển các công nghệ mới trong hệ thống EGR cũng cần được chú trọng để nâng cao hiệu quả và giảm thiểu ô nhiễm.

25/01/2025
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ảnh hưởng của tuần hoàn khí thải đến các chỉ tiêu kỹ thuật và môi trường của động cơ diesel phun nhiên liệu điện tử khi sử dụng diesel sinh học b10 và b20

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan về hệ thống tuần hoàn khí thải trên động cơ 1. Lịch sử nghiên cứu và phát triển hệ thống tuần hoàn khí thải Tuần hoàn khí thải (EGR) là phương pháp đưa một phần khí thải quay trở lại đường nạp nhằm làm giảm nồng độ ô xy trong hỗn hợp môi chất công tác bên trong xi lanh, giảm nhiệt độ cực đại của quá trình cháy, giảm phát thải NO x … Tuần hoàn khí thải được áp dụng rất rộng rãi trên động cơ động cơ đốt trong kiểu pít tông.

Tuần hoàn khí thải không phải là giải pháp công nghệ mới. Tác dụng làm giảm NOx của EGR được công bố từ rất sớm (Berger 1940). Tuy nhiên, việc tạo ra một hệ thống EGR trên động cơ trên thực tế mãi đến cuối những năm 1950 mới được thực hiện (Kopa 1960). Ban đầu hệ thống EGR chỉ đơn giản là dạng ống phụt jecter nối trực tiếp từ đường thải sang đường nạp.

Hệ thống sẽ đưa khí EGR trở lại đường nạp ở tất cả các chế độ làm việc của động cơ. Với thiết kế này làm cho động cơ khó khởi động, làm việc không ổn định ở chế độ không tải. Các thí nghiệm đầu tiên về hệ thống EGR được thực hiện vào những năm 1960. Sự phát triển của hệ thống EGR được đánh dấu từ năm 1973 khi Chrysle cho ra đời hệ thống EGR có làm mát khí tuần hoàn và van EGR được điều khiển theo độ chân không trên đường nạp.

Tín hiệu cảm biến nhiệt độ nước làm mát được sử dụng nhằm kích hoạt hệ thống điều khiển của van EGR khi nhiệt độ động cơ ở trạng thái làm việc ổn định. Từ những năm 1972 đến cuối những năm 1980 EGR thường được sử dụng trong việc kiểm soát phát thải NOx trong động cơ sử dụng nhiên liệu xăng trên xe tải hạng nhẹ và xe khách tại Mỹ. Cuối những năm 1990, hệ thống EGR sử dụng phổ biến trên động cơ xăng. Việc nghiên cứu ứng dụng hệ thống EGR cho động cơ diesel mãi đến đầu những năm 1990 mới được ứng dụng và phát triển (Hawley 1999).

Đến đầu những năm 2000 do yêu cầu cần đáp ứng những tiêu chuẩn khí thải nghiêm ngặt dành cho xe tải nên Cơ quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA) đã phát triển các chương trình nghiên cứu giúp cải thiện phát thải của phương tiện (trong đó có việc phát triển hệ thống EGR có làm mát khí EGR). Từ 2000÷2010 hệ thống EGR có làm mát khí EGR được sử dụng phổ biến trên các động cơ diesel tại Mỹ. Đến sau những năm 2010 hệ thống EGR ứng dụng trên động cơ không chỉ giúp kiểm soát phát thải NOx mà còn thực hiện các nhiệm vụ khác như: đối với động cơ xăng việc sử dụng EGR trên những động cơ phun nhiên liệu trực tiếp còn giúp giảm công bơm (tăng hiệu suất nhiệt), tăng khả năng chống kích nổ và giúp động cơ luan an 6 cháy với hỗn hợp nghèo, giảm suất tiêu thụ nhiên liệu; đối với động cơ diesel việc điều khiển hệ thống EGR nhằm làm tăng nhiệt độ khí thải với mục đích tái sinh lọc. Vai trò của hệ thống tuần hoàn khí thải Đối với động cơ diesel các ô nhiễm chính gồm: NOx, HC, CO và hạt bụi (PM).

Trong đó, NOx và PM là hai chất cần có các biện pháp xử lý thích hợp nhằm đảm bảo việc thỏa mãn các tiêu chuẩn về khí thải [66]. So với PM thì NOx là chất khó xử lý hơn đặc biệt là với động cơ diesel có tỷ lệ A/F lớn đồng thời nếu giảm NOx bằng các bộ xử lý khi thải (BXLKT) thì phát thải PM có thể ảnh hưởng đến chất lượng làm việc cũng như tuổi thọ của BXLKT [66]. Để làm giảm NOx có thể sử dụng các biện pháp sau: tối ưu hóa quá trình cháy, phun nước vào xi lanh, tuần hoàn khí thải (EGR), sử dụng các BXLKT… Bên cạnh việc đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải thì việc duy trì thời gian đáp ứng là tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả của hệ thống xử lý khí thải. Xử lý khí thải tại nguồn phát sinh (trong buồng cháy động cơ) sẽ có thời gian duy trì khả năng đáp ứng tiêu chuẩn lâu hơn [72].

Tuần hoàn khí thải (EGR) là giải pháp được lựa chọn nhằm làm giảm mức phát thải NOx ngay tại nguồn phát sinh [44]. Vai trò của EGR trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn Euro được trình bày trên Hình 1. Có thể thấy để động cơ diesel có thể đạt được tiêu chuẩn Euro III trở lên thì không thể thiếu hệ thống EGR. Vai trò của EGR trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn khí thải [66] Việc kết hợp giữa EGR và hệ thống phun nhiên liệu (HTPNL) điều khiển điện tử cho phép phun nhiều giai đoạn với áp suất cao (HTPNL kiểu Common Rail - CR) sẽ cho phép tận dụng tối đa các lợi ích của hệ thống CR đồng thời cho phép động cơ luan an 7 vận hành một cách linh hoạt, hiệu quả với mức phát thải NOx thấp và đảm bảo mức phát thải PM của động cơ không quá cao (do áp suất phun cao quá trình phun chia làm nhiều giai đoạn sẽ có xu hướng làm giảm mức phát thải PM).

Hiện nay, phương pháp điều khiển hệ thống EGR phù hợp theo từng chế độ vận hành của động cơ hiện vẫn là bí quyết công nghệ của các hãng sản xuất động cơ. Thuộc tính của dòng khí EGR (nhiệt độ, áp suất, lưu lượng, thành phần chính tham gia vào quá trình cháy tiếp theo…) cũng có sự phụ thuộc rất lớn vào tính chất lý hóa của nhiên liệu sử dụng. Vì vậy, để chủ động kiểm soát %EGR khi động cơ chuyển sang sử dụng biodiesel B10, B20 cần có các nghiên cứu chi tiết. Phân loại hệ thống tuần hoàn khí thải Hệ thống EGR trên động cơ hiện nay được phân loại theo nhiều tiêu chí khác nhau: (1) áp suất khí EGR (EGR ở áp suất cao và EGR ở áp suất thấp), (2) phương pháp làm mát dòng khí EGR (có làm mát, không làm mát), (3) phương pháp điều khiển van EGR (dựa vào độ chân không trên đường nạp, van điện từ, bơm khí EGR) 1.

Theo áp suất của dòng khí tuần hoàn 4 5 1 7 8 2 1 2 7 6 8 6 3 3 a) b) 4 5 Hình 1. Sơ đồ hệ thống EGR kiểu áp suất cao (a) và áp suất thấp (b) [40] 1 - Bộ lọc khí nạp; 2 - Cảm biến lưu lượng khí nạp; 3 - Két làm mát khí sau tăng áp; 4 - Bướm gió; 5 - Van EGR; 6 - Két làm mát khí EGR; 7 - bộ tua bin - máy nén; 8 - Bộ xử lý khí thải Sơ đồ nguyên lý hệ thống EGR kiểu áp suất cao và EGR ở áp suất thấp được trình bày trên Hình 1. Hệ thống EGR áp suất cao thường trích một phần khí thải trên cổ góp khí thải phía trước tua bin để đưa đến vị trị cổ góp khí nạp phía sau của máy nén. Hệ thống EGR ở áp suất thấp sử dụng một phần khí thải được trích ra phía sau tua bin (hoặc sau BXLKT) để đưa trở lại đường nạp tại vị trí phía trước máy nén.

So với hệ thống EGR áp suất thấp thì hệ thống EGR áp suất cao có một số ưu điểm nhất định như: kết cấu đơn giản, muội than trong khí EGR không làm ảnh hưởng luan an 8 đến động năng và sự cân bằng của máy nén… Tuy nhiên, nó cũng tồn tại một số nhược điểm như: khó kiểm soát tỷ lệ và nhiệt độ của khí EGR so với hệ thống EGR ở áp suất thấp đồng thời dòng khí EGR chứa nhiều PM hơn do chưa qua bộ lọc. Mặc dù hiện nay hệ thống EGR áp suất cao thường được sử dụng phố biến trên các động cơ diesel lắp trên xe hạng nhẹ nhằm làm giảm NO x, tuy nhiên sự phát triển mạnh mẽ của các bộ lọc khí thải (bắt buộc phải có để có thể đạt tiêu chuẩn khí thải Euro V và cao hơn nữa) đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hệ thống EGR áp suất thấp vì dòng khí EGR được lọc sạch sẽ giảm ảnh hưởng đến cân bằng của rôto máy nén và nhiệt độ dòng khí EGR, tỷ lệ EGR được kiểm soát tốt hơn, [58]. Tuy nhiên, một nhược điểm khó có thể khắc phục ở hệ thống EGR áp suất thấp là việc đáp ứng với sự thay đổi chế độ làm việc của động cơ chậm, cần thể tích của hệ thống EGR lớn và điều đặc biệt là cần có một hệ thống kiểm soát vòng kín cho hệ thống EGR. Hệ thống EGR áp suất cao và EGR áp suất thấp cũng có thể được kết hợp với nhau để tạo thành một hệ thống EGR dạng lai “hybrid” [58].

Việc kết hợp giữa EGR áp suất cao và EGR áp suất thấp có thể cải thiện khả năng đáp ứng của EGR đến sự thay đổi chế độ làm việc của động cơ. Tuy nhiên, hệ thống trở nên phức tạp đồng thời làm tăng các vấn đề liên quan đến việc kiểm soát hệ thống. Sơ đồ nguyên lý của hệ thống EGR “hybrid” được trình bày trên Hình 1. 1 2 3 4 1 - Bộ lọc khí nạp; 2 - Cảm biến lưu lượng khí nạp; 3 - Bướm gió; 8 6 9 4 - Van EGR áp suất thấp; 5 - Két làm mát khi sau tăng áp; 6 - Két làm mát khí EGR; 7 - Van EGR áp suất cao; 5 6 8 - Bộ tua bin - máy nén; 9 - Bộ xử lý khí thải 7 Hình 1.

Hệ thống EGR kết hợp giữa áp suất vao và áp suất thấp [40] Trong hệ thống EGR “hybrid”, tỷ lệ EGR được điều chỉnh nhờ hai van EGR một dành cho “vòng trong” và một dành cho “vòng ngoài”. ECU điều khiển kết hợp làm việc giữa hai van EGR trên nhằm phát huy tối đa hiệu quả của từng hệ thống (quá luan an 9 trình điều khiển trở nên phức tạp hơn và kết cấu của hệ thống cồng kềnh, đây là những lý do chính mà hệ thống này thường ít được sử dụng). Đối với hệ thống EGR áp suất cao, do vị trí khí EGR hòa trộn với không khí gần bầu gom khí nạp hơn so với hệ thống EGR ở áp suất thấp nên hệ thống EGR ở áp suất cao còn được gọi là hệ thống EGR với đoạn đường đi ngắn (Short Route - SR) do khí EGR chỉ cần đi qua két làm mát, van điều khiển là có thể đến đường nạp.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tiêu đề "Ảnh hưởng của tuần hoàn khí thải đến hiệu suất và môi trường của động cơ diesel với diesel sinh học B10 và B20" của tác giả Trần Trọng Tuấn, dưới sự hướng dẫn của PGS.TS Nguyễn Hoàng Vũ và PGS.TS Vũ Ngọc Khiêm, được thực hiện tại Học viện Kỹ thuật Quân sự vào năm 2019. Nghiên cứu này tập trung vào việc phân tích tác động của tuần hoàn khí thải đến hiệu suất hoạt động của động cơ diesel khi sử dụng nhiên liệu diesel sinh học B10 và B20. Bài luận án không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về hiệu suất động cơ mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc sử dụng nhiên liệu tái tạo trong việc giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các nghiên cứu liên quan đến nhiên liệu sinh học và công nghệ chế tạo, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Công nghệ sản xuất nhũ tương diesel nước, nơi nghiên cứu về các phương pháp sản xuất nhiên liệu sinh học, và Sản xuất biodiesel trong thiết bị phản ứng dạng ống liên tục, cung cấp cái nhìn về quy trình sản xuất biodiesel. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về lĩnh vực nhiên liệu sinh học và ứng dụng của nó trong công nghệ hiện đại.