Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TIỆN CỨNG VÀ TIỆN CỨNG CÓ RUNG ĐỘNG TRỢ GIÚP 1. Tiện cứng TiÖn lµ mét ph¬ng ph¸p gia c«ng c¾t gät th«ng dông nhÊt, nã t¹o nªn bÒ mÆt gia c«ng b»ng hai chuyÓn ®éng gäi lµ chuyÓn ®éng t¹o h×nh (chuyÓn ®éng quay trßn cña chi tiÕt) vµ di chuyÓn th¼ng cña dao. Tiện cứng là phương pháp tiện sử dụng dao bằng vật liệu siêu cứng CBN (Cubic Boron Nitride), PCBN, PCD hoặc ceramic tổng hợp thay thế cho mài để gia công thép đã tôi (có độ cứng lớn hơn 45HRC) [1]. Phương pháp này có thể gia công khô và hoàn thành chi tiết trong cùng một lần gá.
Cấp chính xác khi tiện cứng đạt IT6 và độ bóng bề mặt (Rz = 2 4 micromet), có thể so sánh với chất lượng khi mài. Gia công tiện cứng Tiện cứng có thể gia công được các loại vật liệu là thép rèn đã tôi, thép gió, và hợp kim cứng bề mặt stellites… Hợp kim stellites có thể gia công bằng tiện cứng đã mở rộng khả năng của tiện cứng kể cả công việc sửa chữa. Vật liệu điển hình được tiện cứng là thép 9XC (58 62HRC); X12M(60HRC); 5120 (62HRC); 1050(62HRC); … Nhiều nhà máy chế tạo ổ đỡ, bánh răng và trục bằng thép đã tôi sử dụng tiện cứng thay cho mài. Tiện cứng có thể đạt dung sai kích thước đến ±0,01mm hoặc tốt hơn với thời gian chế tạo lâu và độ bóng bề mặt tuyệt vời.
Hơn nữa, máy mài có thể đắt gấp 2 - 3 5 Soáhoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu lần máy tiện. Trong nhiều nhà máy, tiện cứng đã thay thế tiện cứng cho mài truyền thống, giá đầu tư thiết bị chỉ bằng khoảng 1/3. Hơn nữa, thời gian chu kỳ và điều chỉnh ngắn hơn nhiều khi sử dụng máy tiện. Việc áp dụng công nghệ tiện cứng để gia công lần cuối các chi tiết mang lại những lợi ích sau: Giảm thời gian chu kỳ gia công một sản phẩm, giảm chi phí đầu tư thiết bị.
Tăng độ chính xác và độ nhẵn bóng bề mặt cho chi tiết gia công. Cho phép nâng cao tốc độ bóc vật liệu (từ 2 4 lần), nâng cao năng suất gia công. Gia công được các contour phức tạp. Cho phép thực hiện nhiều bước gia công trong cùng một lần gá.
Có thể chọn gia công có hoặc không có dung dịch trơn nguội. Gia công khô tránh được cho phí dung dịch trơn nguội và không có chất thải ra ra môi trường. Tuy nhiên trong quá trình tiện cứng do phôi có độ cứng cao nên trong quá trình cắt ma sát giữa phôi và dụng cụ cắt lớn làm cho lực cắt lớn, dụng cụ cắt mòn nhanh, đồng thời tại vùng cắt nhiệt phát sinh cao làm giảm chất lượng bề mặt của chi tiết sau quá trình gia công [1, 3, 4]. Để khắc phục các nhược điểm của tiện cứng truyền thống nêu ở trên, việc ứng dụng rung động cưỡng bức vào quá trình tiện cứng nhằm nâng cao độ chính xác về kích thước, dộ chính xác về hình dáng hình học và độ nhẵn bóng bề mặt cho gia công tiện cứng nói chung.Phân tích đánh giá các công bố về khai thác rung động cho gia công tiện Cắt rung siêu âm (Ultrasonic vibration cutting – UVC) chính là một quá trình cắt tiên tiến đã được ứng dụng từ những năm 1960.
Trong kỹ thuật cắt này, dụng cụ cắt truyền thống dao động với tần số siêu âm bởi đặc tính của các PZT(Voronin và Marknov, 1960; Isaev và Anokhin, 1961; Skelton 1968 & 1969, và các tác giả khác). Do có sự chuyển động gián đoạn giữa dụng cụ cắt và phôi nên lực cắt giảm rõ rệt, làm tăng tuổi thọ dụng cụ cắt và cải thiện được tính ổn định khi cắt cũng như độ chính xác gia công, chất lượng bề mặt. Hơn nữa, kỹ thuật UVC có thể khắc được các khó khăn về tính kinh tế trong các phương pháp gia công truyền thống như đã được đề cập ở trên và nó còn có thể nhận được độ chính xác gia công cao cho nhiều loại vật liệu gia công khác nhau (Skelton và cộng sự, 1969; Kumabe và cộng sự, 1979; Gao và cộng sự, 2002; Shamoto và Moriwaki, 1994; Baibitsky và cộng sự 2002; Suzuki và cộng sự, 2004 & 2007). Với các lý do đó, công nghệ UVC đã nhận được rất nhiều sự quan tâm từ các nhà nghiên cứu và các nhà chế tạo trong tất cả các công nghệ gia công.
Ngày nay, nguyên lý của kỹ thuật UVC đang được kết hợp với các phương pháp gia công khác, như tiện, khoan, phay, mài, -EDM, mài giũa, đánh bóng.để tạo ra các lợi ích mong muốn (Guo và cộng sự, 1997; Egashira và cộng sự, 2002; Gao và Liu, 2003; Moriwaki và cộng sự, 2004; Jaitana và cộng sự, 2004 & 2005; Suzuki và cộng sự, 2006) [8 ÷10]. Một cách tiếp cân khác giải quyết vấn đề này là sử dụng công nghệ rung động trợ giúp gia công (Vibration Assisted Machining – VAM) tác động lên phôi hoặc lên dụng cụ cắt khi tiện cứng [2, 5 ÷ 11]. Nguyên tắc chung của các phương phương pháp này là bổ sung một nguồn rung động tương đối theo phương dọc trục dao tiện [10] hay theo phương của lực cắt khi tiện [11]. Rung động được khai thác cho tiện cứng là rung siêu âm, có tần số cao (f = 10 ÷ 40 KHz) và biên độ thấp (A = 2 ÷ 10 micromet) [10].
Các kết qủa cho thấy gia công bằng tiện có rung động trợ giúp cải thiện điều kiện bẻ phoi, giảm lực cắt, tăng tuổi bền dao tiện, nâng cao chất lượng bề mặt chi tiết gia công. Gia công tích hợp rung siêu âm là phương pháp gia công có nguồn rung động trợ giúp với tần số rung động từ 15 ÷ 20 KHz trở lên, nguồn rung động với tần số càng cao thì hiệu quả của quá trình gia công các vật liệu dòn càng tốt [13]. Nhiều nghiên cứu khác nhau đã có nhiều cải thiện đáng kể về lực cắt khi tiện, kích thước các bavia, mài mòn dụng cụ cắt thấp, giảm ồn, nâng cao độ chính xác và chất lượng bề mặt sau tiện cứng. Như vậy, nói chung chất lượng tổng thể của phương pháp tiện được cải thiện đáng kể với sự trợ giúp của rung siêu âm.
Việc sử dụng rung siêu âm trong các quá trình gia công đã tạo ra nhiều ưu thế cho gia công các loại vật liệu khó gia công. Để tạo ra được quá trình tiện rung tích hợp siêu âm, cần phải có thiết bị tạo siêu âm gồm các tấm Piezoelectric và máy phát xung. Hiện nay, ở Việt Nam chưa công bố khoa học cả về nghiên cứu gia công có tích hợp rung lẫn thí nghiệm cách gia công này. Đề tài này được thực hiện nhằm hiện thực hóa cách thức gia công có tích hợp rung động tích cực; đồng 7 Soáhoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu thời kiểm chứng một số ưu điểm của phương pháp này so với gia công truyền thống.Các kết quả được phân tích cho thấy chất lượng bề mặt tiện có tích hợp rung được cải thiện rõ rệt so với tiện truyền thống.Cơ sở và nguyên tắc khai thác rung siêu âm 1.
Cơ sở khai thác rung siêu âm Dựa vào những phân tích đã trình bày ở mục 1.2 ở trên thấy rằng việc khai thác rung vào trong quá trình tiện cứng là một vấn đề khoa học có căn cứ và cần được áp dụng ngay vào lĩnh vực công nghệ chế tạo máy ở nước ta hiện nay.Trong phạm vi của nghiên cứu này xin đề cập tới vấn đề nghiên cứu khai thác cơ cấu rung siêu âm áp dụng nguyên tắc rung hiệu ứng áp điện có tần số cao biên độ thấp vào trong gia công tiện cứng. Nguyên tắc khai thác rung siêu âm ứng dụng hiệu ứng áp điện Hiệu ứng áp điện được Jacques và Pierre Curie phát hiện và năm 1880. Họ thấy rằng nếu đặt một biến dạng cơ học lên các tinh thể thì chúng sẽ bị phân cực về điện và mức độ phân cực tỷ lệ với mức độ lớn biến dạng đặt vào. Curie còn khám phám ra rằng, các vật liệu giống với vật liệu này sẽ bị biến dạng khi đặt vào chúng một điện trường.
Hiện tượng này được gọi là hiệu ứng áp điện ngược. Bản chất của hiệu ứng áp điện được thể hiện trên hình 1. Hiện ứng áp điện Hiệu ứng áp điện có trên một số tinh thể trung tính như tinh thể thạch anh, Tuamalin, Na, Kali, Tartrate và các tinh thể này đã được sử dụng nhiều để chế tạo các cơ cấu chuyển đổi áp điện (PZT). Ngoài ra, vật liệu đa tinh thể hiện nay được sử dụng rất rộng rãi, gọi là gốm áp điện.
Với các tinh thể thể hiện tính áp điện, cấu trúc của nó không nên có tâm đối xứng. Một ứng suất (kéo hoặc nén) được đặt lên tinh thể sẽ làm thay đổi khoảng cách giữa các vị trí điện tích âm và dương trong mỗi ô phần tử dẫn đến sự phân cực mạng ở bề mặt tinh thể. Hiệu ứng này thường là tuyến tính. Sự phân cực thay đổi trực tiếp với ứng suất đặt vào và phụ thuộc vào hướng ứng suất, dẫn đến các ứng suất nén và kéo sẽ phát sinh điện trường và do vậy điện áp bị phân cực ngược.
Ngược lại, nếu tinh 8 Soáhoùa bôûi Trung taâm Hoïc lieäu thể được đặt vào một điện trường thì nó sẽ phát sinh một biến dạng dẻo làm cho chiều dài của tinh thể tăng hoặc giảm tương ứng với độ phân cực điện trường. Các cơ cấu làm việc theo phương dọc trục và theo phương ngang có độ cứng cao và được tối ưu cho các chuyển động nhỏ và lực lớn. Các cơ cấu hỗn hợp (tinh thể kép) sử dụng cho các ứng dụng yêu cầu chuyển vị lớn. Nếu đặt lên cơ cấu một điện áp thì sẽ có một chuyển vị xuất hiện.
Khi chuyển vị này bị ngăn cản, một lực sẽ xuất hiện, gọi là lực cản, thực tế nó là thông số xác định độ cứng của cơ cấu.3 đưa ra một minh họa về sự kết hợp khả thi giữa lực cản- hành trình. Đồ thị biểu diễn mối quan hệ giữa lực cản và hành trình Với việc ứng dụng hiệu ứng áp điện và sử dụng các tính toán ở trên, nhiều công ty trên thế giới đã chế tạo ra nhiều loại PZT phục vụ cho việc tạo rung động ứng dụng cho nhiều ngành công nghiệp như gia công cơ, làm chậu rửa, thiết bị y học. cũng như ứng dụng trong công nghệ sensor áp dụng cho các thiết bị đo lực, cân trọng lượng.Các loại PZT này thường được chế tạo thành hai dạng cơ bản sau: - Dạng PZT dạng miếng đơn, được minh họa trên hình 1.