CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ XI MĂNG POÓC LĂNG 1. Giới thiệu chung về xi măng poóc lăng 1. Khái niệm về xi măng poóc lăng Xi măng poóc lăng là chất kết dính thủy, được chế tạo bằng cách nghiền mịn clinker xi măng poóc lăng với một lượng thạch cao cần thiết.
Trong quá trình nghiền có thể sử dụng phụ gia công nghệ nhưng không quá 1% so với khối lượng clinker. Phụ gia công nghệ gồm các chất cải thiện quá trình nghiền, vận chuyển, đóng bao và/hoặc bảo quản xi măng nhưng không làm ảnh hưởng xấu tới tính chất của xi măng, vữa và bê tông. Khái niệm về xi măng poóc lăng hỗn hợp Xi măng poóc lăng hỗn hợp là loại chất kết dính thuỷ, được chế tạo bằng cách nghiền mịn hỗn hợp clinker xi măng poóc lăng với các phụ gia khoáng và một lượng thạch cao cần thiết hoặc bằng cách trộn đều các phụ gia khoáng đã nghiền mịn với xi măng poóc lăng không chứa phụ gia khoáng. Phụ gia khoáng để sản xuất xi măng poóc lăng hỗn hợp phải thỏa mãn các yêu cầu của TCVN 6882 : 2001 và quy chuẩn sử dụng phụ gia trong sản xuất xi măng.
Tổng lượng các phụ gia khoáng (không kể thạch cao) trong xi măng poóc lăng hỗn hợp, tính theo khối lượng xi măng, không lớn hơn 40% trong đó phụ gia đầy không lớn hơn 20%. Thành phần của clinker xi măng poóc lăng Clinker xi măng poóc lăng là sản phẩm chứa các pha (khoáng) có tính chất kết dính thủy lực, sản phẩm nung đến kết khối hỗn hợp phối liệu có đủ thành phần cần thiết để tạo thành khoáng silicat canxi độ bazơ cao. Clinker xi măng poóc lăng là clinker xi măng chứa các khoáng canxi silicat, 9 LUẬN VĂN THẠC SĨ TỐNG VIỆT QUANG canxi aluminat và canxi fero aluminat với tỷ lệ xác định. Clinker xi măng poóc lăng là nguyên liệu đầu vào của quá trình sản xuất xi măng poóc lăng.
Clinker xi măng poóc lăng thường có cấu trúc phức tạp (có nhiều khoáng ở dạng tinh thể và một số khoáng ở dạng vô định hình). Clinker xi măng poóc lăng được tạo thành do quá trình nung luyện phối liệu trong lò nung, nhiệt độ nung o luyện vào khoảng 1450 C. Chất lượng của clinker phụ thuộc vào thành phần khoáng vật, hóa học và công nghệ sản xuất. Thành phần hóa học và thành phần khoáng của clinker được trình bày trong bảng 1.1: Thành phần hóa học của clinker Thành phần hóa học CaO Al2O3 SiO2 Fe2O3 Tỷ lệ % khối lượng 63÷67 4÷8 20÷22 2÷4 Ngoài ra còn có những tạp chất không mong muốn như MgO khoảng 1 ÷ 5%, ôxit kiềm 0.2: Thành phần pha của clinker Thành C3S C2S C3A C4AF phần pha (3CaO.Fe2O3) Tỷ lệ % 45÷72 10÷25 5÷15 10÷18 Đặc tính của từng pha: Alit (C3S): bao gồm 3CaO.SiO2 chiếm từ 45 ÷ 72% trong clinker.
Khoáng này phản ứng nhanh với nước, tỏa nhiều nhiệt khi thủy hóa, cho sản phẩm đông rắn cao nhất sau 28 ngày, đây là một pha quan trọng nhất của clinker. Belit (C2S): bao gồm 2CaO.SiO2 chiếm 10 ÷ 25% trong clinker. Khoáng này phản ứng với nước tỏa ít nhiệt và cho sản phẩm có độ đông rắn chậm nhưng sau 28 10 LUẬN VĂN THẠC SĨ TỐNG VIỆT QUANG ngày cũng đạt được yêu cầu bằng alit. Celit (C4AF): bao gồm 4CaO.Fe2O3 chiếm 10 ÷ 18% trong clinker, là khoáng cho phản ứng tỏa ít nhiệt và cho sản phẩm phản ứng với độ đông rắn thấp.
Canxi aluminat (C3A): bao gồm 3CaO.Al2O3 chiếm 5 ÷ 15%, khoáng này phản ứng nhanh với nước tỏa nhiều nhiệt. Cho sản phẩm phản ứng ban đầu đông rắn nhanh nhưng sau đó lại chậm và kém hơn alit. Phản ứng thủy hóa của xi măng Nói chung, sự hydát hoá là quá trình tương tác của chất kết dính với nước tạo thành các hợp chất hydrat. Trong đa số các trường hợp, sự hydrat hoá xảy ra ở nhiệt độ thường, một số các trường hợp đặc biệt, ví dụ khi chưng hấp bê tông quá trình hydrat hoá xảy ra ở nhiệt độ và áp suất cao.
Khi hydrat hoá các khoáng clanhke tạo thành các tinh thể khác nhau về thành phần và cấu trúc của các hợp chất hydro canxi silicat, aluminat và alumoferit , các dung dịch rắn của chúng và các hợp chất phức hợp, khi đó một phần từ chúng được tách ra ở trạng thái ẩn tinh (dạng gel). Sự đa dạng của các tinh thể hydrat trong đá XM làm cho việc nghiên cứu nó trở nên rất phức tạp [2]. Cơ chế tương tác của các tinh thể khoáng với nước [2]: Khi các phân tử nước tiếp xúc với bề mặt của các tinh thể thì ở gần đó có thể xảy ra các quá trình sau: 1. Sự hấp phụ các phân tử nước lên bề mặt của các tinh thể, quá trình này có + - thể dẫn đến sự điện ly một phần các phân tử nước thành các ion H và OH ; + - 2.
Sự tương tác của các ion H , OH và các phân tử nước lưỡng cực với các trung tâm hoạt tính trong lớp bề mặt của các tinh thể với sự tạo thành ban đầu là các liên kết yếu còn sau đó là các liên kết chặt chẽ hơn; 2+ + 3. Sự phát triển quá trình trao đổi ion dạng Ca 2H dẫn đến sự di chuyển 2+ 3+ 2+ + + 2- một phần đơn vị cấu trúc của tinh thể (Ca , Al , Mg , Na , K , SiO4 v.) vào dung 11 LUẬN VĂN THẠC SĨ TỐNG VIỆT QUANG + - dịch nước làm thay đổi thành phần pha lỏng và dẫn đến sự kết hợp của H , OH và các phân tử nước lưỡng cực với các đơn vị cấu trúc khác của tinh thể tạo thành các mầm ban đầu của các hợp chất hydrat hoá là Ca(OH)2, CaHx, CxSyHz và v. Song song với các ion trao đổi được chuyển mạnh vào dung dịch còn có cả + 2- các ion hydrat hoá Ca(OH) , H2SiO4 v., dẫn đến sự bão hoà và quá bão hoà của dung dịch nước bởi các ion tương ứng. Sự hiđrat hóa của C3S (Alit): Sự hydrat hoá của C3S - Alít tạo thành các hydro canxi silicat và Ca(OH)2.
Khi hydrat hoá C3S trong hồ (tỷ lệ nước/khoáng (N/K) = 0,4 0,7) ở điều kiện thường phản ứng chỉ hoàn toàn kết thúc sau 1 1,5 năm. Thành phần cuối cùng của các sản phẩm phản ứng theo số liệu của các nhà nghiên cứu khác nhau như sau [2] : 2(3CaO.5) Quá trình hydrat hoá của C3S có thể chia thành 4 giai đoạn (hình 1.2) như sau: 12 LUẬN VĂN THẠC SĨ TỐNG VIỆT QUANG Hình 1.3 : Sự thay đổi tốc độ và mức độ hydrat hoá của đơn tinh thể C3S nghiền mịn ( 3 5 m ) [2] a - Đường cong tốc độ toả nhiệt khi hydrat hoá ( I, II, III, IV - các giai đoạn của quá trình toả nhiệt và hydrat hoá ) b - Đường cong phát triển mức độ hydrat hoá c - Sơ đồ tạo thành cấu trúc khi hydrat hoá (1 - phần C 3S; 2 - lớp vỏ ban đầu trên hạt từ các pha hydrat; 3 - các mầm của tinh thể to bên dưới của lớp vỏ; 4 - các pha hydrat hạt mịn, 5 - các tinh thể to ở bên ngoài của lớp vỏ ) Giai đoạn I: Sự hydrat hoá nhanh phần bề mặt của các khoáng tạo thành lớp màng mỏng (vỏ bọc) từ gel của các hợp chất hydrat và sau đó bị chậm dần, giai đoạn này kéo dài khoảng 15 20 phút. Giai đoạn II (thời kỳ cảm ứng) xảy ra quá trình tạo mầm và phát triển tương đối chậm của các tinh thể hydro canxi silicat và Ca(OH)2. Giai đoạn III là giai đoạn tăng tốc độ hydrat hoá đến cực đại.
Giai đoạn IV tốc độ phản ứng bị giảm dần phụ thuộc vào tốc độ phá huỷ lớp vỏ bọc liên tục được tạo ra từ các sản phẩm mới. 0 Mức độ hydrat hoá C3S ở nhiệt độ 298 K theo thời gian như sau: sau 1 ngày: 25 35%; sau 10 ngày: 55 65%; sau 28 ngày: 78 80%. 13 LUẬN VĂN THẠC SĨ TỐNG VIỆT QUANG Hình 1.4: Các tinh thể hydro canxi silicat tạo thành trên bề mặt của các hạt C3S [2]. Sự hiđrat hóa của C2S (Belit): Phản ứng hydrat hoá C2S và các dung dịch rắn của nó tạo thành các hydro canxi silicat thành phần khác nhau và số lượng Ca(OH) 2 nào đó.
Khi hydrát hoá C2S trong hồ có N/K = 0,7 thậm chí sau vài năm phản ứng chỉ đạt đến 85% và tương ứng ở giai đoạn này có phương trình phản ứng như sau: 2CaO.6) Phản ứng xảy ra với lượng nhiệt toả ra 250 290 kJ/kg. Thành phần hoá học của các hydro canxi silicat được tạo thành khi hydrat hoá C2S thay đổi theo thời gian hydrat hoá. Các tinh thể C-S-H ban đầu có dạng hình kim và tập trung xung quanh các hạt C2S bị hydrat hoá. Ở giai đoạn sau tạo thành các tinh thể hydro canxi silicat dạng tấm.
Tốc độ hydrat hoá C 2S nhỏ hơn so với C3S và phụ thuộc vào cấu tạo tinh thể của khoáng, thành phần của dung dịch nước và điều kiện xảy ra phản ứng. Do tác động của các yếu tố đã chỉ ra, mức độ hydrat hoá C2S có thể là : sau 1 ngày : 5 10%; sau 10 ngày: 10 20%; sau 28 ngày: 30 50%; sau 5 6 năm: 100% 14 LUẬN VĂN THẠC SĨ TỐNG VIỆT QUANG Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng -C2S tổng hợp hydrat hoá chậm hơn belit trong thành phần XMP. Nguyên nhân của đặc trưng hydrat hoá rất phức tạp của các dung dịch rắn của C2S chính là sự ổn định của chúng ở các trạng thái cấu trúc khác nhau. Người ta đã cho rằng hoạt tính hydrat hoá của , ' và -C2S cao nhưng khác nhau còn -C2S không bị hydrat hoá.
Tốc độ hydrat hoá C 2S tăng lên trong dung dịch nước chứa CaSO4 và CaCl2 hoà tan. Sự hiđrat hóa của C3A (Canxi aluminat): Trong quá trình hydrat hoá C3A tách ra các hydro canxi aluminat khác nhau, nhưng ở giai đoạn đầu có 4CaO. Phản ứng có thể xảy ra theo sơ đồ: 2(3CaO.8) Phản ứng hydrat hoá C3A xảy ra rất nhanh và sau 1 ngày đã đạt đến 70 - 80%. Khi hydrat hoá C3A có thể tạo thành đồng thời các hydrat C3AH6 và AH3, C4AH19 và 2- C2AH8.
Nếu trong nước trộn có mặt các ion SO4 thì sản phẩm hydrat hoá C3A sẽ là khoáng 3CaO.32H2O - hydro canxi trisunfo aluminat hay còn gọi là Ettringit.Al2O3 + 3CaSO4 + 32H2O = 3CaO.9) Trong trường hợp nếu các ion SO42- trong dung dịch không đủ để liên kết tất cả hydro canxi aluminat thành Ettringit, thì các tinh thể Ettringit và hydro canxi aluminat tương tác với nhau tạo thành hydro canxi monosunfo aluminat: 2(C3AH6 ) + 3CaO.