CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ ĐẬP ĐẤT VÀ VẤN ĐỀ KIỂM SOÁT CHẤT LƯỢNG ĐẮP ĐẬP 1. Tình hình xây dựng đập đất ở Việt Nam Đập đất là một loại đập xây dựng bằng các loại đất hiện có ở vùng xây dựng như: sét, á sét, á cát, cát, sỏi, cuội. Đập đất có cấu tạo đơn giản, vững chắc, có khả năng cơ giới hóa cao khi thi công và trong đa số trường hợp công trình xây dựng có giá thành hạ nên loại đập này được ứng dụng rộng rãi nhất ở hầu hết các nước. Đập đất là loại đập không tràn có nhiệm vụ dâng nước trong các hồ chứa hoặc cùng với các loại đập và công trình khác tham gia nhiệm vụ dâng nước trong các hệ thống thủy lợi.
Đập thường chiếm một vị trí quan trọng trong cụm công trình đầu mối của các hồ chứa hoặc các công trình dâng nước. Để xây dựng các đập trên sông, suối người ta sử dụng nhiều loại vật liệu khác nhau, trong đó dùng đất để đắp đập khá phổ biến. Các loại vật liệu đất có sẵn ở địa phương từ các sản phẩm của bồi tích, sườn tích hoặc phong hóa, như: á sét, sét, á cát, cuội, sỏi,. đều có thể dùng cho đắp đập.
Những ưu điểm của đập đất chúng ta đều đã biết, tuy nhiên trong một số trường hợp đập đất vẫn còn một số tồn tại như: - Do đập đất có khối lớn nên diện tích chiếm đất vĩnh viễn và chiếm đất tạm thời lớn, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái và môi trường xã hội. - Ở những sông suối có sự chênh lệch mực nước giữa các mùa lớn, khi xây dựng đập đất sẽ không kinh tế do chiều cao đập lớn, công trình tràn lớn. - Ảnh hưởng do mực nước trước công trình rút nhanh đến các chỉ tiêu cơ lý của đất đắp đến áp lực kẽ rỗng trong thân công trình và sự ổn định của mái dốc thượng lưu nói riêng, ổn định tổng thể của công trình nói chung. Thống kê một số đập đất, đá lớn ở Việt Nam Năm hoàn TT Tên hồ Tỉnh Loại Đập Hmax (m) thành 1 Khuôn Thần Bắc Giang Đất 26.00 1963 2 Đa Nhim Lâm Đồng Đất 38.00 1963 3 Suối Hai Hà Tây Đất 24.00 1963 4 Thượng Tuy Hà Tĩnh Đất 25.00 1964 5 Cẩm Ly Quảng Bình Đất/đá 30.00 1965 6 Tà Keo Lạng Sơn Đất 35.00 1972 7 Cấm Sơn Bắc Giang Đất 42.50 1974 8 Vực Trống Hà Tĩnh Đất 22.80 1974 9 Đồng Mô Hà Tây Đất 21.00 1974 10 Tiên Lang Quảng Bình Đất 32.30 1978 11 Núi Cốc Thái Nguyên Đất 26.00 1978 12 Pa Khoang Lai Châu Đất 26.00 1978 13 Kẻ Gỗ Hà Tĩnh Đất 37.50 1979 14 Yên Mỹ Thanh Hoá Đất 25.00 1980 15 Yên Lập Quảng Ninh Đất/ Đá 40.00 1980 16 Vĩnh Trinh Quảng Nam Đất 23.00 1980 17 Liệt Sơn Quảng Ngãi Đất 29.00 1981 18 Phú Ninh Quảng Nam Đất 39.40 1982 19 Sông Mực Thanh Hoá Đất 33.40 1983 20 Quất Đông Quảng Ninh Đất 22.60 1983 21 Xạ Hương Vĩnh Phúc Đất 41.00 1984 22 Hoà Trung Đà Nẵng Đất 26.00 1984 23 Hội Sơn Bình Định Đất 29.00 1985 24 Dầu Tiếng Tây Ninh Đất 28.00 1985 25 Biển Hồ Gia Lai Đất 21.00 1985 26 Núi Một Bình Định Đất 30.00 1986 27 Vực Tròn Quảng Bình Đất 29.00 1986 28 Tuyền Lâm Lâm Đồng Đất 32.00 1987 -6- Năm hoàn TT Tên hồ Tỉnh Loại Đập Hmax (m) thành 29 Đá Bàn Khánh Hoà Đất 42.50 1988 30 Khe Tân Quảng Nam Đất 22.40 1989 31 Kinh Môn Quảng Trị Đất 21.00 1989 32 Khe Chè Quảng Ninh Đất 25.20 1990 33 Phú Xuân Phú Yên Đất 23.70 1996 34 Gò miếu Thái nguyên Đất 30.00 1999 35 Cà Giây Bình thuận Đất 30.00 1999 36 Sông Hinh Phú Yên Đất 50.00 2000 37 Sông Sắt Ninh thuận Đất 29.00 2005 38 Sông Sào Nghệ An Đất 30.00 2006 39 Easoup ĐắkLắc Đất 29.00 2005 40 Hà Động Quảng Ninh Đất 30.00 2007 41 IaM’La Gia Lai Đất 37.00 2009 42 Tân Sơn Gia Lai Đất 29.20 2009 Thừa Thiên – 43 Tả Trạch Đất 60.00 2012 Huế 44 Suối Mỡ Bắc Giang Đất 27.
Thực trạng làm việc của các đập và những tồn tại cần khắc phục 1. Thực trạng làm việc của các đập đất Phần lớn các công trình đập đất xây dựng trước năm 1990, thời kỳ đất nước có nhiều khó khăn, trình độ kinh tế - xã hội nói chung còn thấp, các nhu cầu dùng nước chưa cao, tiêu chuẩn thiết kế còn hạn chế, các nguồn vốn đầu tư cho thủy lợi còn eo hẹp, năng lực khảo sát thiết kế thi công, quản lý còn nhiều bất cập, chưa có kinh nghiệm, nên công trình đã thiết kế và xây dựng không tránh khỏi các nhược điểm: chưa đồng bộ, chất lượng thấp, thiếu mỹ quan, chưa hiện đại, hiệu quả đầu tư chưa cao, chưa thật an toàn. Trải qua thời gian dài khai thác, hầu hết các công trình đều có hư hỏng, xuống cấp hoặc có sự cố. Các công trình xây dựng sau năm 190 và -7- các năm gần đây có nhiều tiến bộ hơn, độ an toàn và bền vững cao hơn, nhưng vẫn có công trình bị sự cố, do các bài học kinh nghiệm về tồn tại của các công trình trước chưa được tổng kết kịp thời để rút kinh nghiệm, như công trình đập Am Chúa sự cố năm 1992, Cà Giây năm 1998.
Hiện trạng chung các đập đất có thể nhìn nhận như sau: Chưa an toàn cao về ổn định thấm ở nền và thân công trình. Các đập sau một thời gian làm việc đều bị thấm lậu, rò rỉ, uy hiếp an toàn công trình. Do thấm gây ra như thấm mạnh, sủi nước ở nền đập Đồng Mô-Hà Tây, Suối Giai -Sông Bé, Vân Trục - Vĩnh Phúc… Thấm mạnh, sủi nước ở vai đập Khe Chè -Quảng Ninh, Pa Khoang- Lai Châu, Sông Mây-Đồng Nai… Thấm mạnh ở nơi tiếp giáp với tràn hoặc cống như đập Vĩnh Trinh -Đà Nẵng, Dầu Tiếng -Tây Ninh…. Loại hư hỏng biểu hiện do thấm chiếm khoảng 44,9%.
Thiết bị bảo vệ mái hạ lưu chưa đảm bảo yêu cầu kỹ thuật. Số đập bị hư hỏng kết cấu bảo vệ mái chiếm 35,4%. Các hư hỏng khác như sạt mái, lún không đều, nứt, tổ mối, … chiếm khoảng 19,7%. Có thể nói đập đất là hạng mục công trình quan trọng nhất ở công trình hồ chứa, những hư hỏng nặng ở đập dễ dẫn tới nguy cơ sự cố hồ chứa.
Những tồn tại cần khắc phục Việc tổng hợp và đánh giá thực trạng làm việc của các đập đất thấy đập đất có những tồn tại cần khắc phục trong quá trình khảo sát, thiết kế, thi công và quản lý vận hành như sau: Phần lớn các công trình được thiết kế trước đây áp dụng các tiêu chuẩn, quy phạm với tần suất thiết kế và mức đảm bảo an toàn thấp và thiếu chỉ tiêu kiểm soát về chất lượng đắp đập. Cụ thể tiêu chuẩn trước đây cấp công trình, tần suất thiết kế được xác định theo TCVN-5060-90 và TCXDVN 285-2002 có mức đảm bảo an toàn nói chung và cho cho đập đất nói riêng thấp hơn theo QCVN 04- 05:2012/BNNPTNT 01 cấp. Các công trình đập đất thiết kế trước năm 2005 áp dụng quy phạm thiết kế đập -8- đất đầm nén QPVN 11-77 chưa có chỉ tiêu thiết kế về độ đầm chặt của đất (hay còn gọi là hệ số đầm nén), từ năm 2005 đến nay tiêu chuẩn thiết kế đập đất đầm nén 14TCN 157-2005 cũng như TCVN 8216-2009 ban hành mới bổ sung chỉ tiêu độ chặt thiết kế để kiểm soát chất lượng đắp đập. Hệ thống quản lý vận hành chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế, như trang thiết bị để kiểm tra đánh giá hiện trạng công trình còn thiếu và lạc hậu, chủ yếu là đánh giá dựa trên cơ sở lý thuyết và kinh nghiệm của người quản lý, dẫn đến nhiều công trình không nhận biết trước được các dấu hiệu mất an toàn.
Còn một vấn đề về kiểm soát chất lượng đắp đập hiện nay là các tiêu chuẩn thiết kế đập đất chưa đưa ra chỉ tiêu và quy trình kiểm soát hệ số thấm của đất thân đập tại hiện trường trong quá trình đắp. Theo quy trình, quy phạm, tiêu chẩn hiện nay thì hệ số thấm của đất đắp đập chỉ được lấy mẫu đại diện và thí nghiệm trong phòng sau đó đưa vào mô hình tính, mà chưa có sự đối chứng với thực tế ở hiện trường; Do đó những đập được đắp với đất có mức độ đồng nhất kém thường gây ra những hư hại do dòng thấm gây ra sau một thời gian công trình đi vào khai thác vận hành. Để khắc phục những tồn tại trong thiết kế, thi công của các đập đất thiết kế thi công theo tiêu chuẩn cũ trước năm 2005, các ban ngành hữu quan cần sớm triển khai hệ thống giám sát, kiểm tra, đánh giá một cách toàn diện về mức độ an toàn của các đập đất để sớm phát hiện những ẩn họa gây mất an toàn công trình, từ đó đề ra phương án ứng xử kịp thời và bổ sung chỉ tiêu kiểm soát hệ số thấm của đập trong quá trình xây dựng vào tiêu chuẩn thiết kế, thi công. Vấn đề kiểm soát chất lượng đắp đập hiện nay Mặc dù ngày nay trình độ và công nghệ thi công phát triển, nhưng do thời gian thi công nhanh nên vấn đề kiểm soát chất lượng đắp đập cần phải quan tâm hơn bao giờ hết để quyết định chất lượng đập; Việc kiểm soát chất lượng đắp đập cần tập trung thực hiện các công việc chính sau: 1.
Thực hiện thí nghiệm hiện trường: Để đưa ra các thông số kỹ thuật đầm nén đất đảm bảo độ chặt thiết kế. Kiểm tra chất lượng khối đắp trong quá trình thi công: Từng lớp đất đắp phải được kiểm tra độ chặt để đánh giá chất lượng khối đắp đảm bảo yêu cầu thiết kế. Từng loại đất đắp, từng khối đất đắp phải tiến hành thí nghiệm thấm hiện trường để đánh giá tiêu chuẩn thấm đảm bảo yêu cầu thiết kế thông qua việc so sánh với hệ số thấm thiết kế. Kiểm định chất lượng khi nghiệm thu: Công tác nghiệm thu giai đoạn và hoàn công công tác đắp phải căn cứ vào kết quả kiểm định chất lượng.
Công tác kiểm định phải thực hiện khoan lấy mẫu khối đắp ở hiện trường mang về phòng để phân tích xác định các chỉ tiêu cơ lý đất đắp và độ chặt, làm thí nghiệm thấm tại hiện trường. Căn cứ vào các kết quả thí nghiệm hiện trường và trong phòng tiến hành tính toán kiểm định mức độ an toàn thấm và ổn định đập; khi các kết quả kểm định đạt yêu cầu thiết kế thì mới được nghiệm thu và hoàn công.