Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống xã hội, gia đình là hạt nhân cấu thành, và quan hệ hôn nhân là cơ sở pháp lý làm phát sinh các quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng. Yếu tố vật chất đóng vai trò bảo đảm đời sống ấm no, duy trì sự tồn tại bền vững của gia đình. Khối tài sản chung của vợ chồng bảo đảm nguồn sinh sống, sinh hoạt thiết yếu và đáp ứng các nghĩa vụ kinh tế phát sinh trong thời kỳ hôn nhân. Trong nền kinh tế thị trường, khi một bên vợ hoặc chồng tham gia các giao dịch dân sự, thương mại, hành vi quản lý hoặc định đoạt tài sản chung nhân danh gia đình sẽ tác động trực tiếp đến quyền lợi của người còn lại cũng như người thứ ba có liên quan.
Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) đã kế thừa, sửa đổi và hoàn thiện nhiều quy phạm điều chỉnh quan hệ tài sản giữa vợ và chồng. Tuy nhiên, thực tiễn thi hành cho thấy các tranh chấp liên quan đến việc xác định ranh giới tài sản chung - tài sản riêng, việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung cũng như trách nhiệm liên đới trong giao dịch vẫn diễn ra phức tạp, bộc lộ một số khoảng trống và bất cập. Nhận thức được yêu cầu cấp thiết về mặt lý luận và thực tiễn, tác giả Phùng Diễm Quỳnh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp với đề tài "Quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014" dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Thị Lan tại Trường Đại học Luật Hà Nội (năm 2024).
Về tình hình nghiên cứu, tác giả đã khảo cứu và phân loại các công trình khoa học trong nước thành ba nhóm chính:
- Nhóm sách và đề tài nghiên cứu khoa học: Đáng chú ý có công trình của TS. Nguyễn Văn Cừ (2008), Chế độ tài sản vợ chồng theo pháp luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam, NXB Tư pháp, tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận và chỉ ra các vướng mắc trong việc áp dụng pháp luật; đề tài nghiên cứu khoa học cấp Trường của PGS. Nguyễn Thị Lan (chủ nhiệm), Đỗ Hoài Anh (thư ký), Bùi Minh Hồng, Trần Bảo Ánh, Nguyễn Hồng Hải (2021) tại Trường Đại học Luật Hà Nội với đề tài Chế định tài sản của vợ, chồng - Thực tiễn thực hiện và giải pháp hoàn thiện.
- Nhóm luận văn thạc sĩ luật học: Các công trình tại Trường Đại học Luật Hà Nội như Đặng Thị Như Quỳnh (2022) nghiên cứu về quyền sở hữu tài sản chung để chia khi ly hôn; Thân Quốc Long (2016) phân tích quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung; Nguyễn Thanh Hà (2016) nghiên cứu sở hữu chung và chia tài sản chung; Nguyễn Đức Anh (2017) nghiên cứu xác định tài sản chung; Lê Thị Hòa (2016) về hiệu lực của thỏa thuận chế độ tài sản; Đặng Thị Quỳnh Anh (2023) tiếp cận dưới góc độ luật so sánh; Ngô Thị Thủy Dương (2023) về chế độ tài sản riêng và tài sản chung theo luật định.
- Nhóm bài viết tạp chí chuyên ngành: Các nghiên cứu của Đoàn Thị Phương Diệp (2016), Nguyễn Văn Cừ (2015), Đoàn Thị Ngọc Hải (2019) về chế độ tài sản theo thỏa thuận.
Tác giả chỉ ra rằng phần lớn các công trình đi trước tập trung vào việc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn hoặc chỉ nghiên cứu một khía cạnh riêng lẻ. Đề tài của khóa luận được xác định là công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung xuyên suốt thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Mục đích nghiên cứu của khóa luận là làm sáng tỏ cơ sở lý luận, đánh giá kết quả tích cực, phát hiện hạn chế của pháp luật thực định và vướng mắc thực tiễn áp dụng; từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật và nâng cao hiệu quả điều chỉnh.
Để đạt được mục đích trên, khóa luận triển khai ba nhiệm vụ cụ thể:
- Thứ nhất, phân tích các vấn đề lý luận về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung.
- Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung.
- Thứ ba, phân tích, đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung và đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là một số vấn đề lý luận, quy định của pháp luật Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung.
Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan; đồng thời khảo sát thực tiễn áp dụng pháp luật thông qua hoạt động xét xử các vụ án tại Tòa án nhân dân.
Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Nền tảng lý luận của khóa luận được xây dựng dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng, chủ nghĩa duy vật lịch sử và các quan điểm của Đảng, Nhà nước về xây dựng, hoàn thiện pháp luật hôn nhân và gia đình. Tác giả vận dụng các khái niệm nền tảng trong khoa học pháp lý từ Từ điển Luật học (Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp, 2006) để làm rõ bản chất của "quyền" (sự thừa nhận và bảo đảm của pháp luật cho phép cá nhân thực hiện, yêu cầu người khác thực hiện hoặc kiềm chế hành vi) và "nghĩa vụ" (bổn phận pháp lý chuyển giao tài sản, trả tiền, thực hiện hoặc không thực hiện công việc nhất định theo Điều 274 Bộ luật Dân sự năm 2015).
Khung văn bản quy phạm pháp luật được khai thác bao gồm:
- Hiến pháp năm 2013 (Điều 36 về quyền kết hôn, ly hôn, nguyên tắc bình đẳng vợ chồng), Hiến pháp năm 1946 (Điều 9, Điều 12), Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992.
- Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các đạo luật tiền nhiệm (năm 1959, 1986, 2000).
- Bộ luật Dân sự năm 2015 (các quy định về phân loại tài sản tại Điều 105, quyền sở hữu chung hợp nhất tại Điều 213, quyền chiếm hữu tại Điều 186, quyền sử dụng tại Điều 189, quyền định đoạt tại Điều 192).
- Nghị định số 126/2014/NĐ-CP ngày 31/12/2014 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Luật Đất đai năm 2013 (Điều 99 về cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất), Luật Doanh nghiệp năm 1999.
- Hệ thống văn bản pháp luật lịch sử: Quốc triều hình luật (thời Hậu Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn); Dân luật Giản yếu 1883, Bộ Dân luật Bắc Kỳ 1931, Bộ Dân luật Trung Kỳ 1936; Sắc lệnh số 90/SL, Sắc lệnh số 97/SL, Sắc lệnh số 159/SL năm 1950; Luật Gia đình năm 1959, Sắc luật số 15/64, Bộ Dân luật Sài Gòn năm 1972 ở miền Nam trước năm 1975.
- Pháp luật nước ngoài mang tính so sánh: Điều 221 Bộ luật Dân sự Pháp và các quy định của pháp luật Anh về tài khoản ngân hàng của vợ chồng.
Khóa luận sử dụng các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp: Làm rõ nội hàm các khái niệm lý luận, quy định của pháp luật thực định; bóc tách cấu trúc các quyền năng chiếm hữu, sử dụng, định đoạt và tổng hợp thành bức tranh toàn diện về chế định tài sản chung.
- Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu các quy định pháp luật qua từng thời kỳ lịch sử của Việt Nam; so sánh quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành với pháp luật của Pháp và Anh nhằm nhận diện những điểm tương đồng và tiến bộ.
- Phương pháp thống kê, thu thập tài liệu: Tập hợp các văn bản pháp luật, án văn của Tòa án nhân dân, các công trình nghiên cứu và số liệu thực tiễn để phục vụ việc lập luận và rút ra các kết luận khoa học.
Nguồn dữ liệu của đề tài bắt nguồn từ hệ thống văn bản quy phạm pháp luật thực định, tài liệu lưu trữ pháp luật lịch sử, giáo trình chuẩn của các cơ sở đào tạo luật (Trường Đại học Luật Hà Nội, Trường Đại học Cần Thơ) và các bản án giải quyết tranh chấp tài sản thực tế tại Tòa án nhân dân.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014
Chương 1 xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về chế định tài sản chung của vợ chồng, làm rõ các khái niệm, đặc điểm, ý nghĩa pháp lý và tiến trình lập pháp qua các thời kỳ.
Tác giả xác định tài sản chung của vợ chồng thuộc hình thức sở hữu chung hợp nhất có thể phân chia (khoản 1 Điều 213 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014). Phần quyền sở hữu của mỗi bên không được xác định cụ thể trong thời kỳ hôn nhân; tài sản chung được dùng để thực hiện nghĩa vụ chung của gia đình trước khi phục vụ nhu cầu cá nhân của mỗi bên. Căn cứ xác lập tài sản chung gắn liền với "thời kỳ hôn nhân" – tính từ ngày đăng ký kết hôn đến ngày chấm dứt hôn nhân (khoản 13 Điều 3). Tác giả đưa ra khái niệm khoa học:
"Quyền và nghĩa vụ đối với tài sản chung của vợ, chồng là những quyền và nghĩa vụ mà vợ, chồng được pháp luật cho phép thực hiện hoặc phải thực hiện bằng hành vi của mình trong thời kỳ hôn nhân liên quan đến những lợi ích về tài sản nhằm đảm bảo sự tồn tại, phát triển của gia đình trong đời sống xã hội cũng như đảm bảo quyền, lợi ích chính đáng về tài sản của người khác có giao dịch với vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân."
Khóa luận chỉ ra 4 đặc điểm cơ bản:
- Chủ thể: Là vợ chồng trong quan hệ hôn nhân hợp pháp (tuân thủ các điều kiện kết hôn tại Điều 8 và đăng ký kết hôn theo Điều 9 Luật năm 2014).
- Cơ sở hình thành: Được xây dựng dựa trên ý chí của nhà lập pháp (chế độ tài sản theo luật định) hoặc theo ý chí thỏa thuận của các bên (chế độ tài sản theo thỏa thuận).
- Tính chất tương đối: Do tính chất sở hữu chung hợp nhất, vợ chồng không có quyền định đoạt độc lập số phận pháp lý của khối tài sản chung mà quyền và nghĩa vụ luôn phụ thuộc lẫn nhau.
- Mục đích thực hiện: Đặt lợi ích chung của gia đình lên hàng đầu (khoản 2 Điều 33); các hành vi thực hiện quyền, nghĩa vụ không được xâm phạm đến lợi ích gia đình và người thứ ba.
Ý nghĩa của việc quy định quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung được phân tích trên 4 phương diện: cụ thể hóa quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp năm 2013; bảo đảm quyền, lợi ích chính đáng của vợ chồng và đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, con cái; xác định rõ trách nhiệm tài sản đối với các nghĩa vụ phát sinh nhằm bảo vệ người thứ ba ngay tình; tạo lập cơ sở pháp lý cho Tòa án giải quyết các tranh chấp tài sản.
Về mặt lịch sử lập pháp, tác giả phân tích và khái lược quy định của pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn:
| Thời kỳ lịch sử |
Văn bản pháp lý tiêu biểu |
Bản chất chế độ tài sản |
Đặc điểm quyền năng của vợ và chồng |
| Phong kiến |
Quốc triều hình luật (thời Lê), Hoàng Việt luật lệ (thời Nguyễn, 1815) |
Chế độ cộng đồng toàn sản; tài sản gồm phù vật (động sản) và điền sản (bất động sản). |
Người chồng giữ ưu thế quản lý; người vợ có quyền "nội tướng" xử lý gia vụ; định đoạt điền sản bắt buộc phải có sự đồng thuận, văn tự phải có chữ ký của cả hai bên. |
| Pháp thuộc |
Dân luật Giản yếu 1883, Dân luật Bắc Kỳ 1931, Dân luật Trung Kỳ 1936 |
Ghi nhận chế độ tài sản ước định và chế độ tài sản pháp định (cộng đồng toàn sản). |
Tồn tại quan hệ bất bình đẳng: người chồng có đặc quyền tự mình định đoạt tài sản chung vì lợi ích gia đình; người vợ bị hạn chế năng lực, muốn vay mượn, thuê mướn, kiện tụng phải có sự chuẩn thuận của chồng. |
| Miền Nam (1954 - 1975) |
Luật Gia đình 1959, Sắc luật 15/64, Bộ Dân luật Sài Gòn 1972 |
Luật 1959 áp dụng cộng đồng toàn sản; Sắc luật 15/64 và Dân luật 1972 áp dụng cộng đồng động sản và tạo sản. |
Ghi nhận quyền bình đẳng mở tài khoản ngân hàng (Luật 1959); tuy nhiên Sắc luật 15/64 và Dân luật 1972 vẫn duy trì quyền gia trưởng, chồng quản lý tài sản chung như chủ sở hữu duy nhất (trừ khi mất tích hoặc mất NLHVDS). |
| Từ 1945 đến nay |
Hiến pháp 1946; Sắc lệnh 97/SL; Luật HN&GĐ các năm 1959, 1986, 2000, 2014 |
Luật 1959: Cộng đồng toàn sản; Luật 1986, 2000: Cộng đồng tạo sản; Luật 2014: Kết hợp luật định và thỏa thuận. |
Bãi bỏ quyền gia trưởng từ Sắc lệnh 97/SL; thiết lập nguyên tắc bình đẳng toàn diện giữa vợ và chồng trong mọi quyền năng sở hữu; hoàn thiện quy chế công khai, minh bạch tài sản. |
Chương 2: Pháp luật Việt Nam hiện hành về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung
Chương 2 là nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết các quy định thực định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP theo hai cơ chế: chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định.
1. Quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung theo chế độ tài sản theo thỏa thuận:
- Luật năm 2014 đánh dấu sự trở lại của chế độ tài sản theo thỏa thuận (Điều 28, Điều 47 đến Điều 50). Thỏa thuận phải được lập thành văn bản có công chứng hoặc chứng thực trước khi đăng ký kết hôn.
- Nội dung xác định tài sản theo Điều 15 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP bao gồm: phân định tài sản chung và tài sản riêng; áp dụng mô hình không có tài sản riêng (toàn bộ tài sản trước và trong hôn nhân đều là tài sản chung); hoặc các thỏa thuận khác phù hợp quy định pháp luật. Thỏa thuận có thể được sửa đổi, bổ sung trong thời kỳ hôn nhân và có hiệu lực từ ngày công chứng, chứng thực (Điều 49).
- Để bảo vệ người thứ ba, vợ chồng có nghĩa vụ cung cấp thông tin về chế độ tài sản khi tham gia giao dịch; nếu vi phạm, người thứ ba được coi là ngay tình và được bảo vệ theo quy định của Bộ luật Dân sự (Điều 16 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP). Người có quyền lợi liên quan có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố thỏa thuận vô hiệu nếu rơi vào các trường hợp quy định tại Điều 50.
- Việc thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng được linh hoạt phân công (ví dụ thỏa thuận người chồng trực tiếp quản lý ô tô 7 chỗ, người vợ quản lý ô tô 5 chỗ; phân chia trách nhiệm liên đới hoặc trách nhiệm độc lập khi phát sinh bồi thường thiệt hại; quy định tiền cho thuê nhà thuộc sở hữu chung thành tài sản riêng của một bên). Tuy nhiên, các bên không được thỏa thuận trái với các quy tắc áp dụng đương nhiên tại khoản 2 Điều 28, Điều 30, Điều 31 và Điều 32 (về nhu cầu thiết yếu, chỗ ở duy nhất, tài khoản ngân hàng).
2. Quyền, nghĩa vụ đối với tài sản chung theo chế độ tài sản theo luật định:
- Căn cứ xác lập tài sản chung theo Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Nghị định số 126/2014/NĐ-CP gồm 6 nhóm:
- Tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh trong thời kỳ hôn nhân.
- Hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng trong thời kỳ hôn nhân.
- Quyền sử dụng đất có được sau khi kết hôn (theo Điều 99 Luật Đất đai năm 2013), trừ trường hợp được thừa kế riêng, tặng cho riêng hoặc mua bằng tài sản riêng.
- Tài sản được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung.
- Thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân theo Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP (tiền thưởng, trúng xổ số, tiền trợ cấp trừ trợ cấp ưu đãi người có công; tài sản xác lập quyền sở hữu theo Bộ luật Dân sự năm 2015 đối với vật vô chủ, vật bị chôn giấu, chìm đắm, đánh rơi, bỏ quên, gia súc thất lạc).
- Tài sản do vợ chồng tự nguyện thỏa thuận sáp nhập từ tài sản riêng vào tài sản chung (Điều 46).
- Nguyên tắc suy đoán pháp lý: Khoản 3 Điều 33 quy định trường hợp không có căn cứ chứng minh tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.
3. Nội dung thực hiện quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản chung:
- Điều 35 quy định việc chiếm hữu, sử dụng, định đoạt do vợ chồng thỏa thuận. Định đoạt tài sản phải có văn bản thỏa thuận của cả hai bên trong các trường hợp: bất động sản; động sản phải đăng ký quyền sở hữu; tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình. Giao dịch do một bên tự ý xác lập vi phạm quy định này sẽ bị tuyên bố vô hiệu.
- Nhu cầu thiết yếu và chỗ ở duy nhất: Vợ chồng có nghĩa vụ bình đẳng đóng góp bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình (khoản 10 Điều 3). Trường hợp không có tài sản chung thì phải đóng góp tài sản riêng theo khả năng (Điều 30). Việc định đoạt tài sản riêng nhưng là chỗ ở duy nhất của vợ chồng vẫn phải bảo đảm chỗ ở cho gia đình (Điều 31).
- Tài sản trong tài khoản ngân hàng, chứng khoán (Điều 32): Pháp luật thừa nhận tính đặc thù khi tài khoản chỉ đứng tên một người; người đứng tên được coi là đại diện hợp pháp trong các giao dịch thông thường, tương tự thông lệ pháp luật Pháp và Anh.
- Đưa tài sản chung vào kinh doanh (Điều 36): Phải lập thành văn bản thỏa thuận. Trong quan hệ kinh doanh chung, người trực tiếp điều hành là đại diện hợp pháp của bên kia, các giao dịch không có sự tham gia của một bên mặc nhiên được hiểu là có sự đồng thuận.
- Chế định chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38 đến Điều 42): Vợ chồng có thể thỏa thuận chia một phần hoặc toàn bộ tài sản chung tại tổ chức hành nghề công chứng, hoặc yêu cầu Tòa án giải quyết theo nguyên tắc tại Điều 59. Thời điểm có hiệu lực là ngày thỏa thuận, ngày công chứng hoặc ngày bản án có hiệu lực. Theo Điều 40 Luật năm 2014 và Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã chia thuộc sở hữu riêng của mỗi người; phần chưa chia vẫn thuộc sở hữu chung. Việc chia tài sản bị tuyên vô hiệu theo Điều 42 nếu nhằm trốn tránh nghĩa vụ tài sản hoặc ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích gia đình, con chưa thành niên, con đã thành niên mất NLHVDS.
Chương 3: Thực tiễn thực hiện quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung và một số kiến nghị
Chương 3 tổng kết các kết quả và vướng mắc nảy sinh từ thực tiễn xét xử, đồng thời đưa ra các đề xuất hoàn thiện:
1. Đánh giá thực tiễn thực hiện:
- Các quy định của Luật năm 2014 đã tạo hành lang pháp lý bảo vệ quyền bình đẳng giới, bảo đảm sự an toàn pháp lý cho các bên thứ ba ngay tình và làm căn cứ giải quyết tranh chấp tài sản tại Tòa án nhân dân.
- Tuy nhiên, thực tiễn xét xử bộc lộ nhiều điểm nghẽn:
- Khó khăn trong việc thu thập chứng cứ và áp dụng nguyên tắc suy đoán tài sản chung; đặc biệt đối với quyền sử dụng đất, nhà ở hoặc vàng, tiền do bố mẹ tặng cho sau khi kết hôn nhưng giao dịch tặng cho chỉ bằng miệng, không lập văn bản có công chứng, chứng thực.
- Bất cập khi xác định tiêu chí "tài sản là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình" theo điểm c khoản 2 Điều 35 do luật chưa lượng hóa mức thu nhập hoặc tỷ lệ phần trăm cụ thể.
- Tranh chấp phát sinh khi một bên vợ hoặc chồng bí mật đem tài sản chung thế chấp, bảo lãnh tại ngân hàng hoặc góp vốn kinh doanh, gây xung đột giữa quyền lợi của người vợ/chồng không biết giao dịch và quyền lợi của tổ chức tín dụng.
2. Các kiến nghị của tác giả:
- Hoàn thiện quy định pháp luật: Ban hành văn bản hướng dẫn chi tiết tiêu chí xác định "tài sản là nguồn thu nhập chủ yếu của gia đình"; bổ sung cơ chế công khai hóa thỏa thuận chế độ tài sản thông qua đăng ký hộ tịch hoặc hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia để người thứ ba dễ dàng tra cứu; hoàn thiện quy định về thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản chia trong thời kỳ hôn nhân.
- Nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật: Tòa án nhân dân tối cao cần đẩy mạnh phát triển án lệ liên quan đến tranh chấp tài sản chung của vợ chồng; tăng cường kiểm tra, quản lý chặt chẽ hoạt động công chứng, chứng thực các hợp đồng liên quan đến bất động sản và tài sản có đăng ký quyền sở hữu; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật hôn nhân và gia đình sâu rộng trong nhân dân.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đã trích xuất, phân tích và hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu cụ thể:
- Làm rõ cấu trúc 6 căn cứ xác lập tài sản chung của vợ chồng theo luật định căn cứ Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 9 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP; chỉ rõ phạm vi các khoản thu nhập bất thường (tiền trúng số, tiền thưởng, vật vô chủ, gia súc thất lạc) thuộc khối tài sản chung.
- Xác định cơ chế vận hành của 5 nhóm tài sản đặc thù: tài sản đáp ứng nhu cầu thiết yếu (Điều 30), tài sản là chỗ ở duy nhất (Điều 31), tài sản gửi tại tài khoản ngân hàng và chứng khoán (Điều 32), tài sản có giá trị lớn bắt buộc thỏa thuận bằng văn bản (khoản 2 Điều 35), và tài sản đưa vào hoạt động kinh doanh (Điều 36).
- Hệ thống hóa toàn diện thủ tục, hiệu lực và 4 hệ quả pháp lý của việc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định tại Điều 38, 39, 40, 41, 42 của Luật năm 2014 và Điều 12, 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP.
- Đề xuất hai nhóm kiến nghị: hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật thực định và các giải pháp nâng cao hiệu quả xét xử, công chứng, tuyên truyền pháp luật.
Về mặt đóng góp khoa học, tác giả tự khẳng định khóa luận là công trình khoa học mới mẻ, nghiên cứu chuyên sâu và toàn diện toàn bộ cơ sở lý luận cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Công trình khắc phục tính rời rạc của các nghiên cứu trước đó, giải quyết thấu đáo mối quan hệ giữa quyền sở hữu tài sản chung của vợ chồng với việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người thứ ba ngay tình.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận đã thẳng thắn ghi nhận phạm vi nghiên cứu chỉ giới hạn trong khuôn khổ quan hệ tài sản giữa vợ và chồng trong thời kỳ hôn nhân theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và hệ thống pháp luật Việt Nam thực định; đề tài chủ yếu khai thác các tranh chấp dân sự thông thường phát sinh trong nước.
Từ giới hạn phạm vi nghiên cứu, các hướng nghiên cứu mở rộng tiếp theo có thể bao gồm:
- Nghiên cứu cơ chế điều chỉnh quyền và nghĩa vụ đối với khối tài sản chung có yếu tố nước ngoài (khi vợ hoặc chồng là người nước ngoài, hoặc tài sản chung của vợ chồng tọa lạc ở nước ngoài).
- Nghiên cứu chuyên sâu về quyền tài sản của vợ chồng đối với các loại tài sản mới phát sinh trong nền kinh tế số (như tài sản ảo, tiền mã hóa, tài khoản số trên nền tảng mạng) mà pháp luật hiện hành chưa dự liệu cụ thể.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo hữu ích cho các đối tượng và mục đích cụ thể:
- Sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Dân sự và Tố tụng dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình: Sử dụng làm tài liệu tham khảo có giá trị để học tập, nghiên cứu các chuyên đề về chế định tài sản, kỹ năng xử lý tình huống xác định tài sản chung - tài sản riêng và cơ chế chia tài sản trong hôn nhân.
- Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng (Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Kiểm sát viên, Luật sư): Tham khảo luận cứ khoa học và phân tích thực tiễn tại Chương 2 và Chương 3 để giải quyết các tranh chấp hợp đồng thế chấp, bảo lãnh tài sản chung, tranh chấp quyền sử dụng đất được bố mẹ tặng cho trong thời kỳ hôn nhân.
- Tổ chức hành nghề công chứng, chứng thực: Vận dụng các phân tích về điều kiện hiệu lực của văn bản thỏa thuận chế độ tài sản tiền hôn nhân (Điều 47, 48) và văn bản thỏa thuận chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân (Điều 38) để hạn chế rủi ro văn bản bị tuyên bố vô hiệu.
Câu hỏi thường gặp
1. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, văn bản thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng phải đáp ứng điều kiện hình thức và thời điểm nào để có hiệu lực?
Theo Điều 47 Luật năm 2014, thỏa thuận xác lập chế độ tài sản phải được lập thành văn bản trước khi kết hôn và bắt buộc phải được công chứng hoặc chứng thực. Thỏa thuận này có hiệu lực kể từ ngày đăng ký kết hôn.
2. Nguyên tắc suy đoán tài sản chung theo khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 được quy định và áp dụng như thế nào?
Khoản 3 Điều 33 quy định: "Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung." Nguyên tắc này là căn cứ pháp lý bắt buộc Tòa án áp dụng khi giải quyết tranh chấp tài sản mà các bên không đưa ra được chứng cứ hợp pháp chứng minh quyền sở hữu riêng.
3. Những trường hợp nào việc định đoạt tài sản chung của vợ chồng bắt buộc phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của cả hai bên?
Căn cứ khoản 2 Điều 35 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, việc định đoạt tài sản chung phải có văn bản thỏa thuận của vợ chồng trong 3 trường hợp:
- Bất động sản;
- Động sản mà theo quy định của pháp luật phải đăng ký quyền sở hữu;
- Tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập chủ yếu của gia đình.
4. Sau khi chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân, hoa lợi và lợi tức phát sinh từ phần tài sản đã chia thuộc sở hữu của ai?
Theo Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Điều 14 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP, phần tài sản đã chia trở thành tài sản riêng của mỗi bên; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng này thuộc sở hữu riêng của người đó, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác. Trường hợp việc khai thác tài sản riêng không thể phân biệt được giữa thu nhập lao động của vợ chồng và hoa lợi phát sinh thì tài sản đó thuộc sở hữu chung.
5. Trong lịch sử pháp luật Việt Nam, quyền gia trưởng của người chồng đối với tài sản chung bị bãi bỏ chính thức từ thời điểm nào?
Quyền gia trưởng chính thức bị xóa bỏ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thông qua Điều 9 Hiến pháp năm 1946 (ghi nhận phụ nữ ngang quyền với nam giới) và được cụ thể hóa tại Điều 5, Điều 6 Sắc lệnh số 97/SL ngày 22/5/1950 (quy định vợ chồng có địa vị bình đẳng trong gia đình, người vợ có đầy đủ năng lực pháp lý).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phùng Diễm Quỳnh là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu có hệ thống và toàn diện về quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng đối với tài sản chung theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Bằng phương pháp phân tích quy phạm kết hợp đối chiếu lịch sử và thực tiễn xét xử, đề tài đã làm sáng tỏ cơ chế điều chỉnh của chế độ tài sản luật định lẫn chế độ tài sản theo thỏa thuận. Các kết quả nghiên cứu và kiến nghị trong khóa luận cung cấp nguồn tư liệu học thuật giá trị cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu luật học cũng như công tác xây dựng và áp dụng pháp luật trong thực tiễn tư pháp.