Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC XÂY DỰNG NGÂN HÀNG CÂU HỎI TRẮC NGHIỆM 1.1 Lịch sử vấn đề nghiên cứu 1.1 Trên thế giới Trên thế giới, khoa học đo lường đã ra đời khoảng một thế kỷ ở châu Âu, cho đến nay đã phát triển hết sức mạnh mẽ và có nhiều thành công trong lĩnh vực đo lường, đánh giá trong giáo dục. Ở châu Âu và đặc biệt là Mỹ, lĩnh vực khoa học này phát triển mạnh từ thời kỳ trước và sau chiến tranh thế giới thứ 2 với nhiều dấu mốc quan trọng như trắc nghiệm trí tuệ Stanford-Binet xuất bản năm 1916, bộ trắc nghiệm thành quả học tập tổng hợp đầu tiên Stanford Achievement Test ra đời vào năm 1923. Với việc chấm bài trắc nghiệm bằng máy của IBM năm 1935, việc thành lập NCME vào thập niên 1950 và ra đời ETS (dịch vụ trắc nghiệm giáo dục) năm 1947 ngành công nghiệp trắc nghiệm đã hình thành ở Mỹ. Từ đó đến nay khoa học về đo lường tâm lý và giáo dục đã phát triển liên tục, những phê bình, đóng góp đối với khoa học này xuất hiện thường xuyên làm cho nó tự điều chỉnh và phát triển mạnh mẽ hơn.
Ngoài ra, trên những thành tựu của IRT và ngôn ngữ học máy tính công nghệ E-RATE chấm tự động các bài luận tiếng anh nhờ máy tính của ETS đã được triển khai nhờ mạng Internet trong năm vùa qua. Trong các kỳ thi tuyển sinh đại học mà dựa vào kết quả của các kỳ thi do các công ty ngoài Nhà nước tổ chức để xét tuyển. Có hai dịch vụ hỗ trợ TTĐH ở Hoa Kỳ là SAT (Scholastic Achievement Test) do công ty ETS (Educational Testing Services) tổ chức, và ACT (American College Test) do chương trình ACT (American College Testing Program) triển khai. 5 Luan van Cả SAT và ACT thường tổ chức thi mỗi năm 4 lần, cho các học sinh ở những năm cuối bậc phổ thông trung học.
Hiện nay hàng năm có khoảng 1,8 triệu thí sinh thi SAT và 1,6 triệu thí sinh thi ACT.2 Tại Việt Nam Trước năm 1975, ở Miền Nam nước ta đã có một vài người được đào tạo về khoa học đo lường và đánh giá trong giáo dục từ các nước phương Tây. Vào năm 1974, kỳ thi tú tài lần đầu tiên được tổ chức ở Miền Nam bằng phương pháp TNKQ. Những năm sau 1975, ở miền Bắc có một số cán bộ nghiên cứu về khoa học đo lường trong tâm lý. Đến năm 1993, Bộ GD-ĐT đã mời một số chuyên gia nước ngoài phổ biến về khoa học này, đồng thời cử một số cán bộ ra nước ngoài học tập.
Từ đó một số trường đại học có tổ chức các nhóm nghiên cứu áp dụng các phương pháp đo lường trong giáo dục để thiết kế các công cụ đánh giá, soạn thảo các phần mềm hỗ trợ, mua máy quét quang học chuyên dụng (OMR) để chấm thi. Kỳ thi tuyển đại học thí điểm được tổ chức tại trường đại học Đà Lạt vào tháng 7 năm 1996 bằng phương pháp TNKQ. Kỳ thi này có 7200 thí sinh dự tuyển, 2 loại đề TNKQ và tự luận được sử dụng để thí sinh tự chọn. Có khoảng 70% lượt thí sinh chọn đề TNKQ, bài thi được chấm bằng máy Opscan-7.
Từ năm 1997 các hoạt động đổi mới phương pháp đo lường và đánh giá trong giáo dục lắng xuống. Cho đến mùa thi tuyển đại học năm 2002, Bộ GD-ĐT đã tổ chức kỳ thi tuyển đại học theo hình “3 chung”. Năm 2002, Bộ GD-ĐT đã quan tâm tới việc thành lập “Phòng kiểm định chất lượng chất lượng đào tạo” nằm trong Vụ Đại học. Ngày 18/7/2003, Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục được thành lập theo Nghị định số 85/2003/NĐ-CP.
Quyết định thành lập Cục khảo thí và kiểm định chất lượng giáo dục đánh dấu một thời kỳ mới của sự phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng và kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam. 6 Luan van Năm 2005, Bộ GD-ĐT quyết định sẽ dùng phương pháp TNKQ để làm đề thi một số môn trong kỳ tuyển sinh đại học. Đồng thời dần đưa phương pháp TNKQ vào kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở các cấp học, ngành học. Đến nay đã sử dụng đề thi TNKQ trong các kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học cho các môn thi Ngoại ngữ, Vật lý, Hóa học, Sinh học.
Riêng đối với môn Toán, Bộ GD-ĐT dự định triển khai dùng đề thi TNKQ trong hai kỳ thi tốt nghiệp THPT và tuyển sinh đại học năm 2008, nhưng còn nhiều ý kiến của các chuyên gia cho rằng, câu hỏi TNKQ không đo lường hết mức độ nhận thức của học sinh, hơn nữa vì chưa thật sự chuẩn bị tốt nên việc sử dụng đề thi TNKQ môn Toán trong hai kỳ thi này bị dừng lại.3 Những nghiên cứu về trắc nghiệm có liên quan đến đề tài Những năm đầu của thế kỷ XXI với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học GD và khoa học QLGD ở Việt Nam, vấn đề KTDG bằng trắc nghiệm khách quan cũng được đề cập nhiều trong một số sách, các bài báo về GD, QLGD cụ thể như: “Những cơ sở của kỹ thuật trắc nghiệm” của Bộ giáo dục và đào tạo – Vụ đại học; “Viết và phân tích trắc nghiệm giáo dục” của tác giả Huỳnh Huynh; Tác giả Dương Thiệu Tống với “Trắc nghiệm và đo lường thành quả học tập”; Tác giả Phan Trọng Ngọ ở tác phẩm “Dạy học và phương pháp dạy học trong nhà trường bàn về khái niệm đánh giá, mối quan hệ của đánh giá và mục tiêu học tập, các phương pháp đánh giá”; Tác phẩm “Đánh giá trong giáo dục” của Trần Thị Tuyết Oanh đề cập đến những vấn đề cơ bản về KT-ĐG bằng trắc nghiệm khách quan một cách hệ thống”.TSKH Lâm Quang Thiệp cũng viết khá nhiều sách, tạp chí như bài “Đổi mới phương pháp đánh giá kết quả học tập ở các trường đại học nước ta” và quyển “Trắc nghiệm và ứng dụng” cuốn sách phổ cập cho những người làm giáo dục, phổ biến rộng rãi về khoa học đo lường trong giáo dục bằng trắc nghiệm khách quan. 7 Luan van Hiện nay cũng có rất nhiều luận văn thạc sĩ thực hiện về đề tài xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm như: luận văn “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Công nghệ lớp 10” của Nguyễn Thị Mỹ Hạnh; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Toán đại số tuyến tính cho sinh viên khối không chuyên của Cổ Tồn Minh Đăng; Hoàng Thị Hằng với “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm đánh giá kiến thức và ngân hàng đề thi kỹ năng cho nghề dệt may thổ cẩm theo tiêu chuẩn kỹ năng nghề”; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn Vật lý lớp 11” của Lê Thị Linh; … Những đề tài xây dựng ngân hàng câu hỏi thuộc lĩnh vực CNTT như: “Xây dựng ngân hàng câu hỏi thi trắc nghiệm cho môn học Vi xử lý - Vi điều khiển” của Nguyễn Tuấn Anh – ĐH Thái Nguyên; “Xây dựng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm môn kỹ thuật vi xử lý trường trung học kỹ thuật thực hành” của Trần Thị Quỳnh Như… 1.2 Khái niệm trắc nghiệm khách quan 1.1 Khái niệm chung về trắc nghiệm (TEST) Trắc nghiệm (test) theo tiếng Anh là “thử”. “phép thử”, “sát hạch”. Theo nghĩa chữ Hán, “trắc” có nghĩa là “đo lường”, “nghiệm” là “suy xét, chứng thực”.
[18, Tr 13] Có khá nhiều định nghĩa về trắc nghiệm của các nhà Tâm lý học và Giáo dục học. Dương Thiệu Tống: Trắc nghiệm là một dụng cụ hay phương thức hệ thống nhằm đo lường một mẫu các động thái (Behavior) để trả lời cho câu hỏi “Thành tích của cá nhân như thế nào, so sánh với những người khác hay so sánh với một lĩnh vực các nhiệm vụ học tập dự kiến”. [18, Tr 364] Trong giáo trình “Đánh giá và đo lường kết quả học tập”, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã trích dẫn định nghĩa của Gronlund như sau: Trắc nghiệm là một 8 Luan van công cụ hay một quy trình có hệ thống nhằm đo lường mức độ mà cá nhân đạt được trong một lĩnh vực cụ thể. Trần Bá Hoành: Trắc nghiệm trong giáo dục là một phương pháp đo để tham dò một số đặc điểm năng lực trí tuệ của học sinh (chú ý, tưởng tượng, ghi nhớ, thông minh, năng khiếu.) hoặc để kiểm tra, đánh giá một số kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ của học sinh.
[5, Tr 36] Từ các định nghĩa trên, có thể hiểu “trắc nghiệm” là một công cụ được sử dụng để đo lường thành tích đạt được của cá nhân trong một lĩnh vực học tập cụ thể nào đó. Trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, trắc nghiệm được sử dụng để đánh giá kết quả học tập hay năng lực của học sinh sau một khóa học, môn học hoặc một thời gian học,… 1.2 Trắc nghiệm khách quan Trắc nghiệm khách quan được biểu đạt bằng hệ thống các câu hỏi. Người trả lời được chọn câu trả lời đúng hoặc tốt nhất trong số các câu trả lời cho một câu hỏi. Người chấm căn cứ vào hệ thống cho điểm khách quan để đánh giá, không phụ thuộc vào chủ quan của người chấm.
Ngày nay, việc nâng cao tính khách quan cho quá trình kiểm tra, đánh giá; mang lại kết quả chính xác, công bằng và giảm thiểu được những tiêu cực trong quá trình tổ chức thi cử đang ngày càng được nhiều người quan tâm, ủng hộ.3 Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm Theo Millman (1984): Ngân hàng câu hỏi thi là một tập hợp các câu hỏi thi nào đó để dễ sử dụng để tổ hợp thành đề thi. [18,Tr44] Trong thực tế, quan niệm về ngân hàng câu hỏi có thể khác nhau tùy theo mục đích sử dụng và mức độ làm chủ khoa học đo lường trong giáo dục. Nhưng hầu như tất cả đều thừa nhận rằng các câu hỏi được lưu giữ trong ngân hàng câu hỏi thì phải là những câu hỏi tốt.3 Mục đích sử dụng ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm khách quan Theo tác giả Lê Đức Ngọc, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được sử dụng với ba mục đích chính là để giảng dạy, để học tập và để kiểm tra đánh giá.1 Sử dụng trong giảng dạy Đổi mới phương pháp dạy học: Ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm được xây dựng dựa trên việc xác định các mục tiêu và phân tích nội dung học tập một cách chuẩn mực. Trên cơ sở đó, giáo viên sẽ lựa chọn các phương pháp dạy học phù hợp với từng mục tiêu và nội dung học tập đã xác định.
Vậy nên, ngân hàng câu hỏi trắc nghiệm có tác dụng định hướng quá trình dạy học, tránh dạy tủ và học tủ.