đặt vấn đề nghiên cứu mà đề tài đang hướng đến. Từ đó đề tài xác định các mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu để có thể làm rõ được vấn đề nghiên cứu của đề tài. Đồng thời, đối tượng, phạm vi nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu cũng được đề tài trình bày trong chương này. Cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực nghiệm Trong chương này đề tài trình bày các cơ sở lý thuyết có liên quan đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng bao gồm lý thuyết cấu trúc – thực thi – hiệu quả và lý thuyết cấu trúc – hiệu quả cũng như trình bày các khái niệm liên quan đến cạnh tranh và năng lực cạnh tranh.
Hơn thế nữa, đề tài trình bày các bằng chứng thực nghiệm phân tích các yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Từ đó đề tài tiến hành đề xuất mô hình nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của các ngân hàng. Phương pháp nghiên cứu 8 Đề tài trình bày mô hình nghiên cứu mà đề tài sẽ sử dụng để giải quyết mục tiêu nghiên cứu. Hơn thế nữa, mô tả biến và kỳ vọng dấu cũng được đề tài trình bày trong chương này.
Sau cùng là dữ liệu nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu mà đề tài áp dụng trong nghiên cứu này. Kết quả nghiên cứu Chương này trình bày mô tả thống kê các biến để người đọc hình dung sơ bộ về mẫu nghiên cứu, đồng thời giá trị trung bình của các biến năng lực cạnh tranh theo từng ngân hàng cũng được trình bày trong phần này. Tiếp theo đề tài tiến hành lựa chọn mô hình phù hợp bằng cách thực hiện các kiểm định như đa cộng tuyến, tự tương quan, và phương sai thay đổi. Cuối cùng kết quả và thảo luận kết quả nghiên cứu được trình bày trong chương này.
Kết luận Chương này đề tài trình bày sơ lược về kết quả đạt được từ đó đưa ra các hàm ý chính sách dành cho các nhà quản trị ngân hàng cũng như các nhà hoạch định chính sách với mục tiêu giúp các ngân hàng cải thiện năng lực cạnh tranh. Cuối cùng hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp theo được trình bày trong chương này 9 CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ NGHIÊN CỨU TRƯỚC ĐÂY 2. Định nghĩa Trong phần này đề tài tiến hành định nghĩa khái niệm cạnh tranh và năng lực cạnh tranh của các ngân hàng.
Cạnh tranh “Whish và các cộng sự (2005) đã định nghĩa cạnh tranh là quá trình đối đầu lẫn nhau giữa các doanh nghiệp qua thời gian, trên con đường giành lấy nhiều khách hàng hơn. Mục tiêu chính của việc này là gia tăng thị phần và đạt được nhiều lợi nhuận hơn nữa. Các doanh nghiệp cạnh tranh về giá cả và chất lượng của sản phẩm liên quan. Dựa vào cơ sở lý thuyết về tổ chức công nghiệp truyền thống, trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo, có rất nhiều nhà sản xuất chia nhau thị phần khá nhỏ.
Sự tập trung của thị trường cũng khá thấp. Các nhà sản xuất cá nhân không thể tác động lên giá cả của sản phẩm, vì vậy họ là người chấp nhận giá. Sản phẩm là đồng nhất với nhau. Ngoài ra, không có bất kỳ rào cản gia nhập ngành hoặc rào cản thoát khỏi ngành.
Cuối cùng, môi trường thông tin là hoàn hảo giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng. Chính sách cạnh tranh được định nghĩa là tập hợp các chính sách nhắm đến việc đảm bảo sự cạnh tranh trong thị trường không bị ngăn cản. Như thế, đích đến của chính sách cạnh tranh là nhằm tối ưu hóa phú lợi xã hội thông qua đảm bảo thị trường mang tính cạnh tranh, và hiệu quả phân bổ, hiệu quả sản xuất, cũng như hiệu quả cải tiến sẽ đều đạt được. Hay nói cách khác, chính sách cạnh tranh hướng đến việc tạo ra và duy trì cấu trúc môi trường hiệu quả (Motta, 2004; Whish và các cộng sự, 2005).
Ích lợi của sự cạnh tranh đó là việc phúc lợi xã hội gia tăng theo mức độ cạnh tranh của thị trường. Phúc lợi xã hội được nhận định như tất cả phúc lợi của 10 người dùng và nhà sản xuất. Nó được hình thành bởi tổng thặng dư mà bao gồm thặng dư đạt được của người dùng và nhà sản xuất. Thặng dư của người dùng là sự cách biệt giữa việc đánh giá của họ đố với sản phẩm và giá trị thị trường của nó.
Điều này cũng được định nghĩa như lợi ích ròng mà người dùng nhận được khi mua hàng. Thặng dư của nhà sản xuất chính là lợi nhuận mà họ nhận được từ sản phẩm mà họ bán ra. Trong thị trường cạnh tranh hoàn hảo thì phúc lợi xã hội được tối đa hóa. Tại điểm tối đa của phúc lợi xã hội, hiệu suất Pareto đạt được sẽ xuất hiện tình huống không khả thi mà trong đó một người có thể trở nên tốt hơn mà lại tránh được việc khiến người khác tệ đi.
Hiệu suất này vì vậy bao gồm cả hiệu quả phân bổ và hiệu quả sản xuất. Đầu tiên, nếu hiệu quả phân bộ đạt được tại điểm giá cân bằng của thị trường, điều này nghĩa là nguồn tài nguyên kinh tế được phân phối giữa các hàng hóa khác nhau theo cách thức mà việc cải thiện của người này sẽ không thể tránh khỏi việc khiến người khác tệ đi. Thặng dư của người dùng sẽ đạt giá trị cực đại tại điểm này. Hàng hóa được phân phối giữa các người tiêu dùng dựa trên giá cả mà họ chấp nhận chi trả, và tại giá mà bằng với chi phí biên của sản xuất.
Thứ hai, hiệu quả sản xuất nghĩa là khi hàng hóa được sản xuất tại mức phí thấp nhất có thể. Trong điều kiện cạnh tranh hoàn hảo, các công ty sản xuất tại giá thấp nhất và trên cơ sợ hiệu quả nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn (Motta, 2004; Whish và các cộng sự, 2005). Ngoài hiệu quả phân bổ và hiệu quả sản xuất, thì hiệu quả cải tiến cũng là nhân tố quan trọng. Hiệu quả cải tiến đề cập đến mức độ mà một công ty giới thiệu các sản phẩm mới hoặc quy trình sản xuất mới ra thị trường.
Môi trường cạnh tranh hoàn hảo sẽ giả định rằng nhà sản xuất không ngừng sáng tạo và phát triển sản phẩm mới. Đây là kết quả của sự cạnh tranh giữa các công ty để gia tăng thị phần. Vì thế, cạnh tranh có thể tạo hiệu ứng mong ước trong việc thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ. Sự cạnh tranh trong thị trường buộc các nhà sản xuất cải tiến không ngừng nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao và giảm chi phí duy trì hoặc tăng thị phần của họ, và tạo ra nhiều lợi nhuận (Motta, 2004; Whish và các cộng sự, 2005).
11 Cũng như các ngành khác, cạnh tranh trong hệ thống ngân hàng cũng quan trọng đối với tính hiệu quả và việc tối ưu hóa phúc lợi xã hội. Từ góc nhìn của tổ chức công nghiệp truyền thống, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng sẽ dẫn đến tính hiệu quả trong phân bổ, sản xuất và cải tiến. Vì vậy, được xem như hiệu ứng ưu tiên hàng đầu, người ta kỳ vọng rằng sự gia tăng cạnh tranh trong ngành ngân hàng sẽ dẫn đến chi phí thấp hơn, lãi suất cho vay thấp hơn và nguồn cung cho các khoản vay được tăng lên, sản phẩm cải tiến vượt trội hơn và chất lượng dịch vụ được cải thiện. Mặc dù các dịch vụ tài chính có một số đặc tính đặc biệt, chính là các phương tiện mà thông qua nó sự cạnh tranh sẽ ảnh hưởng đến tính hiệu quả, tương tự như các ngành khác (Northcott, 2004; Clasessens, 2009).
Năng lực cạnh tranh Năng lực cạnh tranh là thuật ngữ kinh tế và được sử dụng rộng rãi, do đó được hiểu và diễn giải theoe nhiều cách khác nhau. Chẳng hạn như, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế OECD cho rằng năng lực cạnh tranh chính là khả năng của doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc nâng cao năng suất sản xuất, tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn. Bên cạnh đó, Poter (1996) đã cho rằng năng lực cạnh tranh được đo lường qua năng suất lao động, khả năng duy trì, mở rộng và chiếm lĩnh thị trường bằng việc tiêu thị các sản phẩm cùng loại hoặc các sản phẩm thay thế nhằm đạt được lợi nhuận cao hơn. Theo tác giả, năng lực cạnh tranh có thể hiểu là khả năng kinh doanh có hiệu quả theo một phương thức nào đó để trở thành thế mạnh của doanh nghiệp.
Để có thể cạnh tranh thành công, các doanh nghiệp phải có được lợi thế cạnh tranh và điều này phụ thuộc vào sự phối hợp các nguồn lực lao động kết hợp với nguồn lực vật làm sao để có chi phí sản xuất thấp hơn và tạo ra mức giá cả đầu ra cao hơn. Ở khía cạnh ngân hàng, Nguyễn Thị Quy (2008) đã cho rằng năng lực cạnh tranh của ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì, và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần, đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức bình quân của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động kinh doanh an 12 toàn và lành mạnh, có khả năng chống lại và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh có thể xảy ra. Qua đây có thể thấy thấy nếu các ngân hàng thích nghi và tận dụng những biến động của môi trường kinh doanh thì phản ánh chiến lược cạnh tranh của ngân hàng đầy sự linh hoạt. Nguyễn Thanh Phong (2010) cũng cho rằng năng lực cạnh tranh của ngân hàng là khả năng do chính ngân hàng tạo ra trên cơ sở duy trì và phát triển những lợi thế sẵn có, với mục đích củng cố và mở rộng thị phần, gia tăng lợi nhuận và có khả năng chống lại, vượt qua những biên động bất lợi của môi trường kinh doanh.
Theo định nghĩa của tác giả này, năng lực cạnh tranh của ngân hàng được đánh giá qua các nhân tố: năng lực tài chính, năng lực công nghệ, nguồn nhân lực, năng lực quản trị điều hành, mạng lưới hoạt động, mức độ đa dạng hóa sản phẩm kinh doanh. Trong đó năng lực tài chính và năng lực quản trị được xem là những yếu tố quan trọng hàng đầu quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng. Bên cạnh đó, năng lực cạnh tranh trong ngành ngân hàng được hiểu như là khả năng định giá của ngân hàng đối với các khoản huy động và cho vay của ngân hàng dành cho các khách hàng của họ (Turusbekova và các cộng sự, 2020).