Chương 1, nghiên cứu đã nêu rõ lý do nghiên cứu của đề tài cũng như các nội dung khác có liên quan như mục tiêu, đối tượng và kết cấu của đề tài nghiên cứu. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH VÀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 2. Cơ sở lý thuyết về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại 2. Giới thiệu chung về năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Hành vi cạnh tranh đã xuất hiện từ khi nền kinh tế hàng hóa ra đời và đã đi cùng với sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa theo thời gian.
Đã có rất nhiều nghiên cứu về cạnh tranh trên các lĩnh vực và cũng có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh. Cạnh tranh trong kinh doanh là hoạt động ganh đua giữa những đơn vị sản xuất hàng hóa dịch vụ, giữa các thương nhân, các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầu, nhằm đạt được các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất. Hay năng lực cạnh tranh là khả năng của các doanh nghiệp, ngành, quốc gia, khu vực trong việc tạo ra việc làm và thu nhập cao hơn trong điều kiện cạnh tranh quốc tế. Khái niệm này được coi là phù hợp nhất vì nó được sử dụng kết hợp cho cả doanh nghiệp, ngành, quốc gia, phản ánh được mối liên hệ giữa cạnh tranh quốc gia với cạnh tranh của các doanh nghiệp, tạo việc làm, tăng thu nhập và mức sống nhân dân.
Theo Smith (1776), lợi thế cạnh tranh dựa trên lợi thế tuyệt đối về năng suất lao động. Năng suất lao động cao có nghĩa là chi phí sản xuất giảm. Theo Porter (1980), lợi thế cạnh tranh trước hết dựa vào khả năng duy trì một chi phí sản xuất thấp và sau đó là dựa vào sự khác biệt hóa sản phẩm so với đối thủ cạnh tranh. Samuelson và Nordhaus (1985) cho rằng cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệp cạnh tranh với nhau để giành khách hàng hoặc thị trường.
D'Cruz (1992) cho rằng khả năng cạnh tranh ở cấp độ doanh nghiệp có thể được định nghĩa là khả năng của công ty trong việc ký kết, sản xuất và hoặc tiếp thị sản phẩm vượt trội so với các sản phẩm do đối thủ cung cấp, xem xét chất lượng bao gồm giá cả và yếu tố phi giá. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 Năng lực cạnh tranh bắt nguồn từ tiếng Latin, competer, có nghĩa là tham gia vào một cuộc cạnh tranh kinh doanh cho thị trường. Theo Murtha and Lenway (1994) năng lực cạnh tranh đã trở nên ph biến để mô tả sức mạnh kinh tế của một thực thể đối với các đối thủ cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường toàn cầu, trong đó hàng hóa, dịch vụ, con người, kỹ năng và ý tưởng di chuyển tự do trên địa lý biên giới. Theo Porter (1998), cạnh tranh là giành lấy thị phần.
Bản chất của cạnh tranh là tìm kiếm lợi nhuận, là khoản lợi nhuận cao hơn mức lợi nhuận trung bình mà doanh nghiệp đang có. Kết quả quá trình cạnh tranh là sự bình quân hóa lợi nhuận trong ngành theo chiều hướng cải thiện sâu dẫn đến hệ quả giá cả có thể giảm đi (1980). Ajitabh và Momaya (2004) cho rằng năng lực cạnh tranh như một khái niệm đa chiều và tương đối. Tầm quan trọng của các tiêu chí khác nhau của năng lực cạnh tranh thay đ i theo thời gian và bối cảnh.
Nó có thể được xem xét từ ba cấp độ khác nhau: cấp quốc gia, ngành công nghiệp và cấp độ doanh nghiệp. Nghiên cứu của Mahoney, McGahan et al. (2009) cho thấy 36 phần trăm chênh lệch về lợi nhuận có thể được quy cho các đặc điểm và hành động của công ty. Tác giả cũng cho rằng các công ty có thể tập trung vào chiến lược của họ cho các hoạt động toàn cầu, và các nguồn lực để xác định nguồn gốc thực sự của khả năng cạnh tranh của họ.
Theo diễn đàn kinh tế thế giới (WEF): năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được hiểu là khả năng duy trì và mở rộng thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh (trong nước và ngoài nước). Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp thể hiện qua hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, lợi nhuận và thị phần của doanh nghiệp có được. Kazarenkova (2006) định nghĩa năng lực cạnh tranh ngân hàng là khả năng thực tế cũng như tiềm năng của một t chức tín dụng để tạo ra và phát triển những sản phẩm dịch vụ mang tính cạnh tranh cao trên thị trường nhằm xây dựng hình ảnh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 tích cực của một ngân hàng hiện đại đáng tin cậy trong việc đáp ứng các nhu cầu từ phía khách hàng. Theo Nguyễn Thị Quy (2008), năng lực cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm duy trì và mở rộng thị phần; đạt được mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh.
Gorditsa (2012) cho rằng năng lực cạnh tranh của các NHTM được xác định bởi mức độ đáp ứng của nó đối với các nhu cầu của khách hàng và tỷ lệ gia tăng khách hàng của ngân hàng. Trong phạm vi của bài nghiên cứu, tác giả không phân tích năng lực cạnh tranh theo góc nhìn quản trị doanh nghiệp mà s phân tích năng lực cạnh tranh theo góc nhìn tài chính. Vì thế tác giả đưa ra khái niệm cạnh tranh trong ngân hàng là sự tranh đua giữa các ngân hàng, dựa trên tất cả những khả năng mà ngân hàng có được nhằm đáp ứng nhu cầu của khách hàng về việc cung cấp những sản phẩm dịch vụ có chất lượng cao, có sự đặc trưng riêng của mình so với các NHTM khác trên thị trường với mức chi phí đầu vào thấp, tạo ra lợi thế cạnh tranh, từ đó cũng cố và mở rộng thị phần, làm tăng lợi nhuận ngân hàng, tạo được uy tín và thương hiệu trên thị trường đồng thời đảm bảo được tính an toàn trong hoạt động kinh doanh. Cạnh tranh trong ngân hàng khuyến khích sự hiệu quả trong sản xuất và phân b dịch vụ tài chính.
Cạnh tranh có thể làm cho thị trường hiệu quả hơn bàng cách khuyến khích cải tiến, giá cả thấp hơn và chất lượng sản phẩm cao hơn làm gia tăng lựa chọn và lợi ích của người tiêu dùng. Cạnh tranh được cho là yếu tố tích cực tạo nên hệ thống ngân hàng có tính cạnh tranh do đó nó được xem là quan trọng đối với nền kinh tế. Lí thuyết cạnh tranh theo tiếp cận truyền thống Lí thuyết cạnh tranh theo tiếp cận truyền thống dựa trên lí thuyết cạnh tranh tân c điển (Neoclassical Theory). Đây là cách tiếp cận mà cạnh tranh được tiếp cận ở dạng tĩnh (Static Approach) với bốn dạng cấu trúc thị trường chính: Cạnh tranh LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hoàn hảo (Perfect Competition), cạnh tranh độc quyền (Monopolist Competition), độc quyền (Monopoly) và độc quyền nhóm (Oligopoly).
Cạnh tranh hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà không một ai có thể chi phối lên giá cả thị trường (cả người bán lẫn người mua). Những điều kiện để có cạnh tranh hoàn hảo là những tiêu chí nhằm gọt bỏ mọi nguy cơ hình thành các thế mạnh trên thị trường. Thị trường cạnh tranh hoàn hảo bao gồm bốn đặc điểm: nhiều người mua và nhiều người bán, sản phẩm đồng nhất, tự do gia nhập và rời bỏ thị trường, thông tin hoàn hảo. Cạnh tranh độc quyền là hình thức cạnh tranh trong đó nhiều nhà sản xuất bán các sản phẩm được phân biệt với nhau mà gần như thay thế sản phẩm khác (Frank & Bernanke, 2004).
Độc quyền là chỉ có một nhà cung cấp duy nhất sản xuất mà gần như không có sản phẩm thay thế (Frank & Bernanke, 2004). Độc quyền nhóm là hình thức mà một công ty sản xuất một sản phẩm mà chỉ có một vài đối thủ sản xuất sản phẩm thay thế (Frank & Bernanke, 2004). Lí thuyết cạnh tranh theo tiếp cận mới Không giống như cách tiếp cận cạnh tranh của trường phái Tân c điển, cạnh tranh trong trường phái Áo dược tiếp cận ở dạng động. Cạnh tranh đơn giản là hành vi ganh đua giữa các cá nhân và được xem là động lực là để cố gắng đưa ra phương thức tốt hơn so với đối thủ cạnh tranh của mình.
Lí thuyết cạnh tranh động cho rằng cạnh tranh gắn liền với sự cải tiến, thông tin không hoàn hảo và vai trò của doanh nhân. Cách tiếp cận này chỉ ra rằng cạnh tranh s dẫn đến các loại đ i mới: (1) giới thiệu sản phẩm mới, (2) giới thiệu phương thức sản xuất mới, (3) chinh phục thị trường tiêu thụ mới, (4) khai thác nhà cung cấp mới, (5) thực hiện cải cách t chức kinh doanh. Phƣơng pháp đo lƣờng năng lực cạnh tranh của ngân hàng thƣơng mại Có nhiều phương pháp đo lường cạnh tranh tuy nhiên chỉ số cấu trúc và phi cấu trúc là hai phương pháp đo lường cạnh tranh được sử dụng rộng rãi trong ngành ngân hàng. Chỉ số cấu trúc dựa trên mô hình Structure- Conduct- Performance (SCP).
Giả thuyết SCP (1951) chỉ ra rằng thị trường ngân hàng có mức tập trung LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 càng cao thì s càng ít hành vi cạnh tranh và dẫn đến đạt được lợi nhuận cao hơn. Với cách tiếp cận này, các đặc điểm của cạnh tranh được lấy từ các đặc điểm cấu trúc, yếu tố quyết định hành vi và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Việc xác định cấu trúc thị trường sử dụng các chỉ số tập trung khác nhau như thị phần của các ngân hàng lớn để đo lường mức độ cạnh tranh. Như vậy có thể thấy rằng mức độ cạnh tranh được suy ra gián tiếp từ các thông tin về mức dộ tập trung, số lượng các doanh nghiệp hay nói cách khác là được suy ra gián tiếp từ cấu trúc thị trường, thị phần.
Đây cũng là hạn chế của phương pháp này, các chỉ số này đo lường thị phần thực tế và chưa tính đến các hành vi cạnh tranh của các ngân hàng. Một cách tiếp cận khác để đo lường cạnh tranh là các chỉ số phi cấu trúc được đề xuất bởi T chức công nghiệp thực nghiệm mới (New Empirical Industrial Organization - NEIO), cách tiếp cận này đã trở nên ph biến từ đầu những năm 1980.