CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 1. Giáo dục đại học, trường đại học và học viện 1. Giáo dục đại học Theo luật giáo dục Việt Nam (13), giáo dục đại học là đào tạo người học có phẩm chất chính trị, đạo đức, có ý thức phục vụ nhân dân, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bên cạnh đó, giáo dục đại học phải có tính hiện đại và phát triển, bảo đảm cơ cấu hợp lý giữa kiến thức khoa học cơ bản, ngoại ngữ và công nghệ thông tin với kiến thức chuyên môn và các bộ môn khoa học Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp, bản sắc văn hóa dân tộc; tương ứng với trình độ chung của khu vực và thế giới.
Giáo dục đại học là nơi đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, và tiến sĩ. Chương trình giáo dục đại học thể hiện mục tiêu giáo dục đại học; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục đại học, phương pháp và hình thức đào tạo, cách thức đánh giá kết quả đào tạo đối với mỗi môn học, ngành học, trình độ đào tạo của giáo dục đại học; bảo đảm yêu cầu liên thông với các chương trình giáo dục khác. Cơ sở giáo dục đại học bao gồm: trường cao đẳng – đào tạo trình độ cao đẳng; trường đại học – đào tạo trình độ cao đẳng, trình độ đại học; đào tạo trình độ thạc sĩ, trình độ tiến sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao. Viện nghiên cứu khoa học đào tạo trình độ tiến sĩ, phối hợp với trường đại học đào tạo trình độ thạc sĩ khi được Thủ tướng Chính phủ giao.
Tóm lại, giáo dục đại học vừa có vai trò đào tạo nhân lực có trình độ cao để phát triển kinh tế - xã hội, vừa là bộ phận quan trọng đóng góp trong việc sáng tạo, bảo tồn và chuyển giao tri thức, các giá trị tinh thần của dân tộc và của nhân loại. Trường đại học và học viện Đại học (tiếng Anh: University) đó là một bậc học chuyển tiếp từ bậc phổ 7 thông trung học, nó dành cho các học sinh đã tốt nghiệp phổ thông trung học có khả năng và nguyện vọng học tập tiếp lên trên. Trường đại học là một tổ chức cung cấp nền giáo dục sâu rộng và là nơi nghiên cứu, cấp bằng học thuật cho rất nhiều các lĩnh vực ngành nghề. (30) Hiện nay, có 3 loại trường đại học bao gồm: đại học, trường đại học và học viện.
Và có 4 loại hình trường đại học bao gồm: công lập, bán công, dân lập và tư thục. Trường đại học có một số nhiệm vụ sau: (12) + Đào tạo nhân lực có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt, có kiến thức và năng lực thực hành nghề nghiệp tương xứng với trình độ đào tạo, có sức khoẻ, có năng lực thích ứng với việc làm trong xã hội, tự tạo việc làm cho mình và cho những người khác, có khả năng hợp tác bình đẳng trong quan hệ quốc tế, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. + Giữ gìn và phát triển những di sản và bản sắc văn hoá dân tộc. Phát hiện và bồi dưỡng nhân tài trong những người học và trong đội ngũ cán bộ giảng viên của trường.
Quản lý giảng viên, cán bộ, nhân viên; xây dựng đội ngũ giảng viên của trường đủ về số lượng, cân đối về cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành nghề. Tuyển sinh và quản lý người học. Phối hợp với gia đình người học, các tổ chức, cá nhân trong hoạt động giáo dục. Đào tạo của đại học chuyên công tác giảng dạy và thường đào tạo mang tính nghề nghiệp nhiều hơn, trong khi đó đào tạo của Học viện gồm giảng dạy và nghiên cứu.
Học viện thường đào tạo sâu và mang tính chất chuyên môn cao, thiên về nghiên cứu. Bằng cấp của Học viện cũng như của Đại học đều giống nhau do Bộ Giáo dục – Đào tạo quy định, sinh viên ra trường đều được cấp bằng cử nhân. Thông thường Học viện là đơn vị của ngành, ví dụ: Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông thuộc Bộ Bưu Chính Viễn Thông; Học viện Tài chính thuộc Bộ Tài Chính; Học viện Hàng Không Việt Nam thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải; … 1. Dịch vụ và dịch vụ giáo dục đại học 1.
Dịch vụ Dịch vụ đã có từ lâu và giữ vị trí quan trọng trong đời sống kinh tế xã hội. 8 Dịch vụ là một khái niệm phổ biến và có nhiều quan điểm về khái niệm này. Theo Philip Kotler & Ctg (22) cho rằng dịch vụ là bất kỳ hành động hay lợi ích nào mà một bên có thể cung cấp cho bên khác, dịch vụ về cơ bản là vô hình và không đem lại sự sở hữu nào cả. Theo TCVN ISO 9000:2000 (14), dịch vụ là kết quả của ít nhất một hoạt động cần được tiến hành tại nơi tương giao giữa người cung cấp và khách hàng, và thường không hữu hình.
Việc cung cấp một dịch vụ có thể liên quan đến những điều sau: + Một hoạt động thực hiện trên một sản phẩm hữu hình do khách hàng cung cấp (ví dụ sửa xe hơi); + Một hoạt động thực hiện trên một sản phẩm không cảm nhận bằng xúc giác do khách hàng cung cấp (ví dụ khai thu nhập để hoàn thuế); + Giao một sản phẩm không hữu hình (ví dụ cung cấp kiến thức); + Tạo ra một bầu không khí cho khách hàng (ví dụ trong khách sạn hay trong nhà hàng). Như vậy, dịch vụ là những hoạt động và kết quả mà một bên (người bán: nhà cung cấp dịch vụ, doanh nghiệp) có thể cung cấp cho bên kia (người mua: khách hàng) và chủ yếu là vô hình không mang tính sở hữu. Dịch vụ có thể gắn liền hay không gắn liền với một sản phẩm vật chất. Dịch vụ giáo dục đại học Đảng và Nhà nước ta xác định "giáo dục là quốc sách hàng đầu" đồng thời cũng coi giáo dục là một loại dịch vụ công cộng.
Khi nói giáo dục là một dịch vụ không phải là một hàng hóa thì không hề hạ thấp vai trò và tính cao đẹp của giáo dục, bởi vì sản phẩm của giáo dục là kiến thức, kỹ năng và đào tạo nguồn lực cho đất nước có nghĩa là đã đặt giáo dục vào vị trí hàng đầu, vị trí tạo tiền đề, tạo động lực cho mọi sự phát triển. Nguyễn Văn Ngãi (31) dịch vụ giáo dục đại học bao hàm hai đặc điểm: tính loại trừ và tính cạnh tranh trong sử dụng. + Dịch vụ giáo dục đại học có tính loại trừ trong sử dụng là vì sinh viên không 9 thể tham gia hưởng thụ dịch vụ đó mà không có điều kiện, họ phải thi đầu vào, phải đóng học phí …. Nếu sinh viên không thỏa mãn những điều kiện đó sẽ bị loại trừ ra khỏi việc hưởng thụ dịch vụ giáo dục.
+ Dịch vụ giáo dục đại học có tính cạnh tranh trong sử dụng là vì việc học của một sinh viên này sẽ ảnh hưởng đến việc học của người khác. Vì số lượng sinh viên trong một lớp học là hạn chế và số lượng lớp học trong một trường cũng bị hạn chế, nên sinh viên này được học thì một người khác không được học, hay là nếu thêm một sinh viên vào một lớp học quá đông sẽ ảnh hửơng đến việc học của các sinh viên khác. Giống như các thị trường khác trong nền kinh tế, thị trường dịch vụ giáo dục đại học có hai khía cạnh là cung và cầu. Trong một lý thuyết căn bản của kinh tế học, quy luật cầu muốn nói rằng cầu và giá có quan hệ nghịch biến, tức là đường cầu dốc xuống.
Nếu giá càng cao thì cầu càng thấp và ngược lại. Khi chi phí cho việc học tăng lên thì số người đi học sẽ giảm. Hơn nữa, quy luật cung thì ngược lại, cung và gía có quan hệ đồng biến, đường cung dốc lên, nếu học phí thu được từ sinh viên càng cao thì số lượng sinh viên mà nhà trường nhận đào tạo càng cao. Ngược lại, nếu học phí thu được càng thấp thì số lượng sinh viên nhà trường nhận đào tạo sẽ giảm.
Trong thực tế, không có một ngành hoạt động nào mà không cần đến nhân lực, không thừa hưởng kết quả đào tạo của giáo dục. Giáo dục đại học hoạt động với tinh thần chủ động sáng tạo theo mục tiêu nhiệm vụ của Chính phủ giao cho nhưng cũng lại vừa là một bộ phận chủ chốt trong hệ thống tổng thể của đất nước với tư cách là một loại dịch vụ quan trọng, hoạt động theo cơ chế thị trường. Kết quả của giáo dục nhất là giáo dục bậc đại học, cao đẳng thường sẽ đi liền với kết quả cộng hưởng của những ngành kinh tế, xã hội. Chất lượng, chất lượng dịch vụ, chất lượng dịch vụ giáo dục đại học 1.
Chất lượng Chất lượng là một phạm trù rất rộng và phức tạp, phản ánh tổng hợp các nội dung kinh tế, kỹ thuật và xã hội. Do tính phức tạp của chất lượng nên hiện nay có 10 rất nhiều khái niệm về chất lượng, mỗi khái niệm đều có cơ sở khoa học nhằm giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ nhất định trong thực tế. Chất lượng đã được định nghĩa như là sự thích hợp cho việc sử dụng, làm giảm sự biến động, gia tăng giá trị, phù hợp với các yêu cầu hoặc thông số kỹ thuật., 1999) (26) Chất lượng là mức độ của một tập hợp các đặc tính vốn có đáp ứng các yêu cầu. Hay nói cách khác, chất lượng là mức độ mà một sản phẩm/dịch vụ thỏa mãn yêu cầu của khách hàng (TCVN ISO 9000:2000).
(20): chất lượng có nghĩa là những tính năng của sản phẩm đáp ứng nhu cầu của khách hàng và qua đó đem đến sự hài lòng cho khách hàng. Chất lượng dịch vụ Chất lượng dịch vụ cũng là một khái niệm gây nhiều sự tranh cãi, các nhà nghiên cứu gặp nhiều khó khăn trong việc định nghĩa và đo lường chất lượng dịch vụ mà không hề có sự thống nhất nào. Tuy nhiên, chất lượng dịch vụ là một khái niệm rất quan trọng trong quá trình xây dựng thương hiệu, thực hiện các chiến lược marketing của các doanh nghiệp. Theo Parusurman, Zeithaml và Berry (1985,1988) (23)(24) chất lượng dịch vụ được xem như là khoảng cách giữa kỳ vọng của các khách hàng và nhận thức của họ khi đã sử dụng qua dịch vụ.