CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ BIDV VÀ BIỂU HIỆN CỦA VẤN ĐỀ THANH KHOẢN 1. Giới thiệu về BIDV và tổng quan tình hình hoạt động. Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam-BIDV, tiền thân là ngân hàng Kiến thiết Việt Nam, trực thuộc Bộ Tài Chính được thành lập ngày 26/04/1957. Đến năm 1981, ngân hàng được đổi tên thành ngân hàng Ðầu tư và Xây dựng Việt Nam, trực thuộc ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Sau nhiều năm hoạt động trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng chính thức có tên ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam vào năm 1990. Vào tháng 5/2012 ngân hàng đã thay đổi hình thức tổ chức thành ngân hàng Thương mại Cổ phần, đây được xem là bước chuyển mình mạnh mẽ và đến ngày 24/01/2014 thực sự là một dấu mốc quan trọng trong lịch sử phát triển 58 năm hoạt động của BIDV khi cổ phiếu BID chính thức niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành Phố Hồ Chí Minh. Với những chuyển biến tích cực trong hoạt động nội tại của ngân hàng và điều kiện thuận lợi của tình hình kinh tế vĩ mô, cũng như trên thị trường chứng khoán, cổ phiếu BIDV ngày càng hấp dẫn các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Từ cột mốc này, đỏi hỏi bản thân BIDV phải cố gắng hoàn thiện, nâng cao hiệu quả kinh doanh và minh bạch thông tin tài chính.
Trong hơn 2 năm niêm yết chính thức kể từ đầu năm 2014, năm 2015 là một năm thành công đối với cổ phiếu BID khi tăng trưởng ấn tượng về giá, thanh khoản ổn định. BIDV là một trong những ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, được tổ chức hoạt động theo mô hình ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó Nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối. Trong năm 2015, sau khi nhận sáp nhập ngân hàng TMCP Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB) vào hệ thống, BIDVđã trở thành ngân hàng có tổng tài sản lớn nhất và vốn chủ sở hữu lớn thứ ba (sau Vietinbank và Vietcombank) trong nhóm các ngân hàng TMCP Việt Nam. BIDV có tốc độ tăng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 6 trưởng tài sản nhanh nhất và vốn chủ sở hữu nhanh thứ 2 so với 2 ngân hàng TMCP nhà nước còn lại (Vietcombank và Vietinbank).
Năm 2015, BIDV là ngân hàng có lợi nhuận ròng và ROE lớn nhất trong các ngân hàng niêm yết. Lợi nhuận ròng năm 2015 đạt 6.298 tỷ đồng, tăng 27,3% so với năm 2014. Tổng tài sản đạt 850.669 tỷ đồng, tăng 31%, vốn chủ sở hữu đạt 40.949 tỷ đồng, tăng 23% so với năm trước. Các chỉ số sinh lời ROE đạt 17% cao nhất trong nhóm các ngân hàng niêm yết.
BIDV trong giai đoạn 2012-2015 có tốc độ tăng trưởng kép của huy động vốn khá tốt đạt 22,5%/năm. Tiền gửi của khách hàng luôn chiếm tỷ trọng cao nhất trong cơ cấu huy động vốn, trung bình đạt tỷ trọng 85% trong giai đoạn này. Cơ cấu huy động vốn của BIDV chủ yếu là tiền gửi bằng VND, chiếm 92% tổng tiền gửi khách hàng. Tình hình tài chính lành mạnh đảm bảo tính ổn định cho hoạt động của ngân hàng trong nhiều năm qua, với lợi thế về quy mô tổng tài sản, tăng trưởng, lợi nhuận cũng như vị thế trên thị trường,hoàn toàn có thể đặt niềm tin vào độ ổn định cũng như khả năng thanh khoản của BIDV.
Tiếp bước những thành công trong những năm trước, qua năm 2016, tổng tài sản BIDV đến 31/12/2016 đạt 1.404 tỷ đồng, tăng trưởng 18,3% so với năm 2015, chiếm 14% tổng tài sản toàn ngành ngân hàng. Nguồn vốn huy động (bao gồm tiền gửi khách hàng, phát hành giấy tờ có giá, các khoản tiền gửi tiền vay được ghi nhận vào nguồn vốn huy động) tăng trưởng tốt, đáp ứng đủ nhu cầu sử dụng vốn, đảm bảo an toàn thanh khoản hệ thống. Đến 31/12/2016, nguồn vốn huy động đạt 940.020 tỷ đồng, trong đó huy động vốn tổ chức, dân cư đạt 797.689 tỷ đồng, tăng trưởng 21,1% so với năm 2015, đảm bảo mục tiêu đã được ĐHĐCĐ giao (tăng 21%-22%) Hiệu quả kinh doanh tăng trưởng ổn định: Lợi nhuận trước thuế đạt 7.709 tỷ đồng, tăng 3,16% so với năm 2015, hệ số CAR hợp nhất đạt trên 9%, đảm bảo chỉ tiêu an toàn thanh khoản, giới hạn đầu tư theo quy định của ngân hàng Nhà nước. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 Theo những phân tích ở trên, thì vốn đáp ứng khả năng hoạt động của ngân hàng luôn ở trạng thái dồi dào, có thể hạn chế được tối đa rủi ro mất thanh khoản xảy ra đối với tổ chức tín dụng.
Tuy nhiên vấn đề quản trị thanh khoản là việc làm sao để cân bằng thanh khoản, tránh trạng thái dư thừa gây mất đi chi phí cơ hội sử dụng nguồn vốn để tìm kiếm lợi nhuận cho quá trình hoạt động của ngân hàng. Biểu hiện của vấn đề thanh khoản tại BIDV 1. Lý thuyết nền của vấn đề thanh khoản. Khái niệm thanh khoản ngân hàng.
Theo dòng lịch sử, thanh khoản đã song hành với sự phát triển của khái niệm tiền tệ và đã thay đổi theo quá trình mở rộng tài chính, trong một phạm vi rộng hơn, nó thay đổi theo sự cải tiến trong cấu trúc và chức năng của hệ thống tài chính. Lý thuyết tài chính phát triển từ những năm 70 cho rằng, với những bất hoàn hảo của thị trường vốn, dịch chuyển nguồn vốn giữa những thành phần kinh tế trong một khoảng thời gian yêu cầu một lượng tài sản tài chính phi rủi ro thích hợp trong nền kinh tế: để lưu trữ giá trị và là công cụ trao đổi được đông đảo những người tham gia trên thị trường chấp nhận. Và đó chính là định nghĩa tiền giấy hay tiền pháp định, tiền vừa đảm nhiệm chức năng là đơn vị hạch toán, vừa giữ chức năng là trung gian trao đổi. Từ đó hình thành nên một khái niệm này có thể nói quen thuộc và phổ biến nhất đó là “Tiền là tài sản có tính thanh khoản cao nhất nên tiền cũng được lựa chọn làm thước đo cho khả năng thanh khoản của các tài sản khác”.
Lý thuyết tài chính cũng lý giải vai trò của các ngân hàng thương mại như là những nhà cung cấp thanh khoản: bởi chức năng cung cấp những khoản vay hoặc nắm giữ những chứng khoán nợ sơ cấp được phát hành bởi các thành phần kinh tế có nhu cầu được cung cấp thêm vốn. Và điều này đã dẫn đến khái niệm thanh khoản ngân hàng. Theo ngân hàng Trung ương Châu Âu (2009) định nghĩa thì “Thanh khoản là khả năng lưu thông và chuyển đổi hàng hóa, dịch vụ trong một nền kinh tế. Thanh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 khoản ngân hàng là việc dòng tiền lưu thông trong hệ thống tài chính giữa các ngân hàng thương mại diễn ra một cách suôn sẻ và không bị ách tắc”.
Theo định nghĩa của ngân hàng Thanh toán Quốc tế (2009) “Thanh khoản là khả năng của ngân hàng đáp ứng cho sự gia tăng tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ đến hạn mà không bị thiệt hại”. Theo Duttweiler (2009) “Thanh khoản ngân hàng không phải là một số tiền nào đó, cũng không phải là một tỷ lệ. Thay vào đó, nó thể hiện khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán của một ngân hàng. Trái ngược với nó là thiếu khả năng thanh khoản, nghĩa là: ngân hàng thiếu khả năng thực hiện nghĩa vụ thanh toán”.
Theo định nghĩa này thì thanh khoản đại diện cho yếu tố định tính về sức mạnh tài chính của một ngân hàng. Theo Rose (2004) định nghĩa “Thanh khoản ngân hàng là việc ngân hàng có thể có được những khoản vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại thời điểm ngân hàng có nhu cầu”. Điều này gợi ý rằng, ngân hàng có khả năng thanh khoản tốt khi ngân hàng có trong tay một lượng vốn khả dụng với quy mô hợp lý hoặc ngân hàng có thể nhanh chóng huy động vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Theo đó, thanh khoản ngân hàng thường mang ý nghĩa thời điểm rất lớn.
Đa số các yêu cầu thanh khoản của ngân hàng mang tính tức thời hoặc gần như vậy. Theo Bank for International Settlement (2008), Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng ban hành, theo đó “Thanh khoản của ngân hàng là khả năng của ngân hàng đó để tăng thêm tài sản và đáp ứng các nghĩa vụ nợ khi đến hạn mà không bị thiệt hại quá mức”. Như vậy, thanh khoản là khả năng ngân hàng đáp ứng đầy đủ và kịp thời các nghĩa vụ tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động giao dịch như chi trả tiền gửi, cho vay, thanh toán và các giao dịch tài chính khác. Từ các định nghĩa thanh khoản trên cho thấy việc định nghĩa thanh khoản mang một tính tương đối trừu tượng.
Tuy nhiên có thể tóm gọn định nghĩa thanh khoản ngân hàng theo một cách dễ hiểu như sau: Thanh khoản của ngân hàng là trạng thái ngân hàng luôn có trong tay một lượng vốn khả dụng với chi phí thấp đúng tại TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 thời điểm ngân hàng có nhu cầu hoặc khả năng nhanh chóng huy động được vốn thông qua con đường vay nợ hay bán tài sản. Rủi ro thanh khoản là một loại rủi ro của ngân hàng khi không đủ các nguồn tài chính để thanh toán các nghĩa vụ nợ đến hạn, hoặc là phải sử dụng nguồn tài chính với chi phí cao mặc dù ngân hàng vẫn có khả năng thanh toán. Một ngân hàng hoạt động bình thường phải đảm bảo được khả năng thanh toán, tức là phải đáp ứng được nhu cầu thanh toán trong hiện tại, tương lai và các nhu cầu thanh toán đột xuất. Rủi ro này có thể dẫn đến phá sản ngân hàng ngay cả khi ngân hàng đó vẫn đảm bảo hoạt động có lợi nhuận.
Rủi ro thanh khoản của một ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và uy tín của bản thân ngân hàng, mà còn tác động mạnh mẽ đến toàn bộ hệ thống tài chính, tiềm ẩn khả năng đỗ vỡ hệ thống. Theo Rose (1998), phương pháp tiếp cận cổ điển nhất trong việc đáp ứng nhu cầu thanh khoản là quản trị tài sản thanh khoản. Các ngân hàng tích lũy thanh khoản bằng cách nắm giữ các tài sản thanh khoản, chủ yếu là tiền mặt và các chứng khoán dễ dàng bán. Khi nhu cầu thanh khoản xuất hiện, ngân hàng sẽ chuyển đổi một số tài sản cho tới khi đáp ứng toàn bộ nhu cầu.