Chương 1: Giới thiệu luận văn thạc sỹ kinh tế. Trong chương này tác giả giới thiệu bối cảnh chung cũng như lý do và sự cần thiết của đề tài nghiên cứu. Từ đó đưa ra những đóng góp trong kết quả nghiên cứu của đề tài mang lại cho sự phát triển trong hệ thống quản lý rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại Việt Nam nói chung và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam nói riêng. Chương 2: Tổng quan về nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại.
Tác giả tổng quát hóa cơ sở lý luận về rủi ro tín dụng và nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng, các khái niệm về rủi ro, QLRRTD và quy trình trong quản lý rủi ro tín dụng. Ngoài ra đưa ra một số bài học kinh nghiệm của một số Ngân hàng trên thế giới về quản lý rủi ro tín dụng. Chương 3: Thực trạng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Dựa trên số liệu thu thập được từ các báo cáo thường niên của NHTMCP CT VN giai đoạn 2013-2016 từ đó phân tích đánh giá thực trạng rủi ro tín dụng và quản rủi ro tín dụng, nhận xét các mặt đạt được và những hạn chế còn tồn tại và nguyên nhân.
Chương 4: Giải pháp nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam. Dựa vào kết quả phân tích tại chương 3, tác giả đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm nâng cao chất lượng quản lý rủi ro tín dụng tại NHTM CP CT VN. 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG QUẢN LÝ RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 2.1 Rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại 2. Các loại rủi ro chủ yếu trong hoạt động của các NHTM Theo thời gian cùng kinh tế ngày càng phát triển, các giao dịch kinh tế ngày càng đa dạng, ngành ngân hàng cũng không nằm ngoài sự vận động đó, hệ thống ngân hàng càng ngày càng phát triển, mạng lưới được mở rộng hơn các nghiệp vụ ngân hàng cũng đa dạng hơn để đáp ứng được nền kinh tế.
Tăng trưởng luôn đi kèm với rủi ro, Ngân hàng do vậy cũng đối mặt với nhiều rủi ro hơn để tạo được lợi nhuận mong muốn. Trong thực tế hiện nay khi nói đến rủi ro Ngân hàng thường gặp phải người ta thường nói đến các loại rủi ro như: rủi ro hoạt động, rủi ro ngoại hối, rủi ro thanh khoản, rủi ro lãi suất, rủi ro tín dụng. Mỗi loại rủi ro có đặc thù riêng song chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau và đều ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Rủi ro hoạt động Theo Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng, “Rủi ro hoạt động là rủi ro gây ra tổn thất cho ngân hàng do nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ thống, các sự kiện khách quan bên ngoài”.
Rủi ro hoạt động là loại rủi ro tổn thất tài sản xảy ra do hoạt động kém hiệu quả, ví dụ như hệ thống thông tin không đầy đủ, hoạt động có vấn đề, có vi phạm trong hệ thống kiểm soát nội bộ, có sự gian lận hay những thảm họa không lường trước được. Rủi ro ngoại hối Theo Peter S. Rose (2001) “Rủi ro ngoại hối là những thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu do sự biến động của giá cả tiền tệ trên thị trường thế giới”. Rủi ro ngoại hối xảy ra do tài sản Có và tài sản Nợ bằng ngoại tệ của mỗi ngân hàng không cân xứng với nhau cả về số lượng và kỳ hạn.
Rủi ro ngoại hối có mối quan hệ với rủi ro tín dụng thể hiện như: Khi tỷ giá hối đoái biến động mạnh có thể dẫn đến tình trạng khan hiếm một loại ngoại tệ nào đó và để chi trả cho bên bán, các DN phải mua ngoại tệ với giá cao ngoài dự tính, lợi nhuận kinh doanh giảm, có thể ảnh hưởng đến khả năng trả nợ vay. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Rủi ro thanh khoản Rủi ro thanh khoản xảy ra khi ngân hàng thiếu ngân quỹ hoặc tài sản ngắn hạn mang tính khả thi để đáp ứng nhu cầu của người gửi tiền và người đi vay. Thiếu ngân quỹ ở đây có thể được hiểu theo 2 cách: thiếu dự trữ tại ngân hàng, hoặc là không thể huy động được nguồn vốn ngay lập tức.
Tình trạng này nhỏ thì gây thua lỗ, hoạt động kinh doanh đình trệ, nặng thì làm mất khả năng thanh toán và dẫn đến ngân hàng phá sản. Để tránh được rủi ro thanh khoản, các NHTM phải tính toán được hệ số thanh khoản của mình, tức là tính được khả năng đáp ứng nhu cầu thanh toán ngay của các tài sản Nợ. Rủi ro lãi suất Là những thiệt hại mà NHTM phải gánh chịu khi có sự thay đổi lãi suất trên thị trường. Nếu ngân hàng duy trì cơ cấu tài sản Có và tài sản Nợ với những kỳ hạn không cân xứng với nhau thì phải chịu những rủi ro về lãi suất trong việc tái tài trợ tài sản Có hoặc khi giá trị của tài sản thay đổi do lãi suất thị trường biến động.
Ngoài ra, rủi ro lãi suất còn thể hiện khi tỷ lệ lạm phát tăng nhanh hơn lạm phát dự kiến trong khi lãi suất cho vay không thể điều chỉnh được, thì ngân hàng có thể phải chịu rủi ro nếu tỷ lệ lạm phát lớn hơn hoặc bằng lãi suất cho vay (lãi suất thực tế âm). Rủi ro tín dụng Đây là loại rủi ro mà đề tài này đề cập đến, khái niệm rủi ro tín dụng sẽ được trình bày sâu hơn ở các phần sau của đề tài. Tuy nhiên, để định nghĩa ngắn gọn thì theo như thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21/1/2013 của NHNN thì “Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là tổn thất có khả năng xảy ra đối với nợ của Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không thực hiện, hoặc không có khả năng thực hiện một phần hay toàn bộ nghĩa vụ của mình theo cam kết”. Kết luận Giữa các loại rủi ro trong hoạt động kinh doanh của NHTM nói chung và 5 loại rủi ro cơ bản được đề cập ở trên nói riêng có mối quan hệ mật thiết với nhau, rủi ro này là nguyên nhân của rủi ro kia.
Trong hoạt động tín dụng, để xảy ra rủi ro với tỷ lệ nợ xấu cao, khả năng thu hồi nợ thấp sẽ dẫn đến rủi ro thanh khoản. Khi NHTM để xảy ra rủi ro thanh khoản, phải đi vay vốn trên thị trường, phải huy động vốn với lãi suất cao hơn, lại gây ra rủi ro nguồn vốn và rủi ro lãi suất. Rủi ro trong hoạt động bởi nguyên nhân con người, sự không đầy đủ hay vận hành không tốt các quy trình, hệ 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thống, các sự kiện khách quan bên ngoài lại gây ro rủi ro tín dụng và rủi ro ngoại hối,…. Trong ngành ngân hàng, thì lợi nhuận từ các cho vay luôn chiếm tỷ trọng cao nhất, do vậy bất cứ rủi ro nào phát sinh từ các hoạt động tín dụng đều ảnh hưởng trực tiếp và bao trùm lên cả hoạt động của một ngân hàng.
Chính vì vậy trong quản lý rủi ro, nếu quản lý tốt rủi ro tín dụng sẽ làm giảm được phần lớn nguy cơ thất thoát tài sản và giảm thiểu được nguy cơ mất thanh khoản.2 Khái niệm về rủi ro tín dụng Rủi ro là những biến cố không thể lường trước được và khi xảy đến sẽ mang lại tổn thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài chính nhất định. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh đem lại lợi nhuận nhiều nhất của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro lớn nhất. Các thống kê và nghiên cứu cho thấy, rủi ro tín dụng chiếm đến 70% trong tổng rủi ro hoạt động ngân hàng. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng, theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm từ 1/2 đến 2/3 thu nhập ngân hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại).
Trong “Financial Institutions Management – A Modern Perpective”, A.Lange đã định nghĩa: rủi ro tín dụng là khoản lỗ tiềm tàng khi ngân hàng cấp tín dụng cho một khách hàng, nghĩa là khả năng các luồng thu nhập dự tính mang lại từ khoản cho vay của ngân hàng không thể được thực hiện đầy đủ cả về cả số lượng và thời hạn. Còn theo Henie Van Greuning & Sonja Brajovic Bratanovic: Rủi ro tín dụng được định nghĩa là nguy cơ mà người đi vay không thể chi trả tiền lãi hoặc hoàn trả vốn gốc so với thời hạn đã ấn định trong hợp đồng tín dụng. đây là thuộc tính vốn có của hoạt động ngân hàng. Rủi ro tín dụng tức là việc chi trả bị trì hoãn, hoặc tồi tệ hơn là không chi trả được toàn bộ.
điều này gây ra sự cố đối với dòng chu chuyển tiền tệ và ảnh hưởng tới khả năng thanh khoản của ngân hàng (Analyzing Banking Risk - A Framework for Assessing Corporate Governance and Risk Management, 2006, page 179). 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo khoản 1 Điều 2 Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 22/VBHN-NHNN ngày 04/6/2014 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết. Có nhiều định nghĩa về rủi ro tín dụng nhưng tựu chung lại chúng ta có thể rút ra các nội dung cơ bản của rủi ro tín dụng như sau: - Rủi ro tín dụng là khi người vay thất hứa trong thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng, bao gồm gốc và/ hoặc lãi. Sự sai hẹn có thể là trễ hạn hoặc không thanh toán.
- Rủi ro tín dụng sẽ dẫn đến tổn thất tài chính, tức là giảm thu nhập ròng và giảm giá trị thị trường của vốn. Trong trường hợp nghiêm trọng có thể dẫn đến thua lỗ, hoặc ở mức độ cao hơn có thể dẫn đến phá sản.